[ Home ] [ Up ]
Từ
trong hoang địa
Mc 1, 1 - 8.
Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa: Chiếu theo lời đă
chép trong sách ngôn sứ I-sai-a: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt
Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hăy
dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
Ông Gio-an Tẩy Giả đă xuất hiện trong
hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ ḷng sám
hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành
Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ
trong sông Gio-đan. Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da,
ăn châu chấu và mật ong rừng. Ông rao giảng rằng:
"Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống
cởi quai dép cho Người. Tôi đă làm phép rửa cho anh em nhờ nước; c̣n
Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần."
“Ông Gioan Tẩy giả
đă xuất hiện trong hoang địa”
Để giới thiệu Chúa Giêsu, Gioan “xuất
hiện từ trong hoang địa”. Từ phía bờ bên kia sông Giođan. Đó là
vùng hoang địa, vùng sau này Chúa Giêsu sẽ vào đó chịu cám dỗ. Đó cũng
là vùng trước đó rất lâu, dân Do thái đă lang thang suốt 40 năm sau khi
rời đất nô lệ Ai cập.
Gioan muốn xuất hiện từ sa mạc, có phải để sự xuất hiện và lời loan báo
của ḿnh có được “kịch tính” ?
Nhà của Gioan không phải ở trong sa mạc. Tin mừng theo Luca nói : “Hồi
ấy, bà Maria vội vă lên đường, đến miền núi, vào một
thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà
vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.” (Lc 1:39)
Có người cho rằng có lẽ từ “Giuđa”
bị viết sai, phải chăng đó là thành “Jutta”
V́ “Các thành ở cuối phần đất của chi
tộc con cái Giu-đa, ở vùng giáp giới Ê-đôm trong miền Ne-ghép, là: ...
Maôn, Cácmen, Díp, Giútta,
Gítrơen ...”, (Jos 15:55 , 21:16 ) ? v́ thành này thuộc vùng đất
mà các Tư tế thuộc chi tộc Giuđa cư ngụ.
Nhưng không nhất thiết các thầy Tư tế phải cư ngụ trong thành dành riêng
cho ḿnh. Matthathias cư ngụ tại thành Modin, Simon Macchabê cư trú ở
giải Gaza...
Theo truyền thuyết có từ thớ thập tự chinh, th́ gia đ́nh của Gioan Tẩy
giả ở thành Ain-Karim, cách Giêruslem chừng năm dặm về phía Tây Nam.
Chi tiết “người loan báo xuất hiện từ
trong hoang địa” này khiến chúng ta nhớ lại lời hứa và chỉ thị
liên quan đến biến cố vào xứ Canaan mà Thiên Chúa dặn ḍ người Do thái
trước đó 1200 năm: “Này Ta sai thiên sứ
đi trước ngươi, để giữ ǵn ngươi khi đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta
đă dọn sẵn. Trước mặt người, hăy ư tứ và nghe lời người. Đừng làm cho
người phải chịu cay đắng; người sẽ không tha lỗi cho các ngươi, v́ danh
Ta ngự trong người. Nếu thực sự ngươi nghe lời người, nếu ngươi làm mọi
điều Ta nói, Ta sẽ trở thành kẻ thù của kẻ thù ngươi, đối phương của đối
phương ngươi.” (Xh 23:20)
Vài trăm năm sau nữa, các ngôn sứ cũng lên tiếng nói về một cuộc lữ hành
qua sa mạc về lại cố hương sau thời lưu đày Babylon : “Thiên
Chúa anh em phán: "Hăy an ủi, an ủi dân Ta: Hăy ngọt ngào khuyên bảo
Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đă măn, tội
của Thành đă đền xong, v́ Thành đă bị tay ĐỨC CHÚA giáng phạt gấp hai
lần tội phạm." Có tiếng hô: "Trong sa mạc, hăy mở một con đường cho ĐỨC
CHÚA, giữa đồng hoang, hăy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa
chúng ta.” (Is 40:1-3)
Người Do thái không lạ lẫm với hoang địa.
Chung quanh họ là sa mạc, là hoang địa. Chỉ cần nh́n qua bên kia bờ sông
Giodan, họ thấy ngay hoang địa, trải dài mút tầm mắt. Mỗi ngày khi gió
đông nổi lên, sức nóng của hoang địa nhắc họ thực tại: họ thực sự đang
sống giữa khắc nghiệt, khô cằn, và vùng đất chết.
Hoang địa c̣n nhắc cho họ một thực tại. Tôn giáo của người bản địa
Canaan thờ thần Mot. Danh xưng vị thần này đồng nghĩa với Tử thần. Thần
này cai quản những vùng khô cằn, hoang dă, nóng bức. Đó là vị thần bản
xứ cai quản hoang địa.
Và rồi chỉ cần nhớ về lịch sử dân tộc, không ai có thế quên 40 năm lang
thang trong hoang địa. Bắt đầu từ Ai cập, xứ sở họ đang sống đời nô lệ,
họ kết thúc cuộc lữ hành tại vùng b́nh nguyên Moab. Từ đó họ vượt sông
Giodan vào tiến chiếm Đất Hứa qua ngă Giêricô.
Có hai cám dỗ nặng nề thời họ lang thang như thế.
1-
Cám dỗ thứ nhất là nản ḷng bỏ cuộc.
Họ nhủ nhau: “Thôi đủ rồi. Dừng tại sa
mạc này mà định cư thôi !” Họ đă nhiều lần tạm cư trong hoang mạc
như thế. Như tại ốc đảo Kadesh Barnea,
trong lúc chờ các thám tử trở về: “Sau
bốn mươi ngày do thám đất, họ trở về. Họ đến gặp ông Mô-sê, ông A-ha-ron
và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en,
tại Ca-đê trong sa mạc Pa-ran. Họ báo cáo với hai ông và toàn thể
cộng đồng con cái Ít-ra-en, và cho những người đó xem hoa trái miền ấy...
Toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en đến sa mạc Xin vào tháng giêng, và
dân ở lại Ca-đê. Bà Mi-ri-am đă qua đời và được chôn cất tại đây”
(Ds 13:26, 20:1)
Thiên Chúa phải nhắc họ không được định
cư tại hoang địa, mà phải tiếp
tục lên đường: “Mỗi lần mây bốc
lên cao khỏi Lều, th́ con cái Ít-ra-en nhổ trại, và nơi nào mây đậu lại,
th́ ở đó con cái Ít-ra-en đóng trại. Cứ lệnh ĐỨC CHÚA mà con cái
Ít-ra-en lên đường, và cứ lệnh ĐỨC CHÚA mà họ đóng trại; bao lâu mây đậu
lại trên Nhà Tạm, th́ họ tiếp tục đóng trại..... Năm thứ hai, tháng hai,
ngày hai mươi trong tháng, mây bốc lên khỏi Nhà Tạm Chứng Ước, và từ sa
mạc Xi-nai, con cái Ít-ra-en lên đường theo thứ tự. Rồi cột mây đậu lại
trong sa mạc Pa-ran. Họ đă lên đường lần đầu tiên theo lệnh ĐỨC CHÚA
truyền qua ông Mô-sê.” (Ds 9:17-18; 10:11-13)
Trong sách Đệ nhị Luật, Môsê nhắc lại chi tiết này cho ngướ Do thái: "ĐỨC
CHÚA, Thiên Chúa của chúng ta, đă phán với chúng ta tại núi Khô-rếp như
sau: "Các ngươi ở núi này đă lâu rồi Hăy chuyển hướng và lên đường, đi
tới núi người E-mô-ri, và tới các dân chung quanh, ở thung lũng A-ra-va,
ở miền núi, miền Sơ-phê-la, miền Ne-ghép, miền duyên hải, tới đất người
Ca-na-an, núi Li-băng, cho đến Sông Cả, là sông Êu-phơ-rát.” (Đnl
1:6-7).
Công đoàn Do thái bị cấm không được định cư quá lâu trong hoang địa.
Chỉ có thể là tạm cư.
Chúng ta được nghe lại lời nhắc nhở lên đường lúc Chúa Giêsu hiển dung
trên núi Tabor: “Bấy giờ ông Phê-rô
thưa với Đức Giê-su rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu
Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông
Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." (Mt 17:4)
Ước ao th́ ao ước thế, nhưng các Ngài vẫn phải xuống núi Tabor, để lên
Núi Canvê.
2-
Cám dỗ thứ hai có phần nguy hiểm hơn: “Họ
nói với ông Mô-sê: "Bên Ai-cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại
đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Ông làm ǵ chúng tôi vậy, khi ông
đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập? Đó chẳng phải là điều chúng tôi từng nói
với ông bên Ai-cập sao? Chúng tôi đă bảo: Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ
Ai-cập! Thà làm nô lệ Ai-cập c̣n hơn chết trong sa mạc! " (Xh
14:11-12)
Họ không những muốn ngưng cuộc lữ hành tiến tới trước, về vùng trời tự
do, vùng Đất Hứa, mà tệ hơn, họ muốn
quay đầu trở lại vùng đất nô lệ, cam làm thân trâu ngựa.
Điều đáng nói là, cả sau khi chứng kiến những điều lạ lùng, những phép
lạ vĩ đại cứu thoát họ khỏi tay quân lính và chiến xa của Pharaô, họ vẫn
ngang ngược ao ớc phải chi những chuyện ấy đừng hề xảy ra, để họ quay
trở lại Ai cập !
Cám dỗ thứ hai này là cám dỗ thờ nguỵ
thần, rất thường xảy ra, và đầy sức lôi cuốn.
Đó là hoài niệm quá khứ. Quá khứ thường mang vẻ quen thuộc hơn, và an
ninh hơn.
Dĩ nhiên hoài niệm quá khứ không phải là tội. “Ôn
cố” để mà “tri tân” là
điều tốt. Nhưng cái cám dỗ nằm ở chổ, khi hoài niệm, chúng ta bỏ hiện
tại mà trở về sống trong quá khứ để tránh đối diện với tương lai.
3-
Hoang địa c̣n là nơi người Do thái kư
kết Giao Ước với Thiên Chúa.
Thiên Chúa có thể dẫn dân Do thái đi thẳng từ Biển Đỏ sang ngay vùng Đất
Hứa. Chỉ cần đi dọc bờ biển Địa Trung Hải, ngang qua giải Gaza. Khoảng
cách chỉ chừng hai ba ngày đường.
Dĩ nhiên tiến vào chiếm Đất Hứa là mục
tiêu tối hậu, nhưng không phải là
mục tiêu gần và cấp thiết. Môsê đă tuyên bố điều cấp thiết này
cho Pharaô biết: “Ngươi sẽ nói với vua
ấy: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của người Híp-ri, đă sai tôi nói với bệ hạ: Hăy
thả dân Ta ra, để chúng đi thờ phượng Ta trong sa mạc.” (Xh 7:16)
Dạy cho người Do thái biết thờ phượng
Thiên Chúa trong hoang địa mới là điều cấp thiết hơn.
4-
Hoang địa c̣n là nơi cần thiết để thử
thách và trắc nghiệm- temptare, để coi dân Do thái có trung tín
với niềm tin của tổ tiên họ vào Thiên Chúa hay không.
Họ không có nước uống ? Chúa cho khe nước chạy ra từ tảng đá : “Họ
đă đóng trại ở Rơ-phi-đim, nhưng tại đấy không có nước cho dân uống.Dân
gây sự với ông Mô-sê. Họ nói: "Cho chúng tôi nước uống đi! " Ông Mô-sê
nói: "Tại sao anh em lại gây sự với tôi? Tại sao lại thử thách ĐỨC CHÚA?
" ... ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Ngươi hăy đi lên phía trước dân, đem
theo một số kỳ mục Ít-ra-en; cầm lấy cây gậy ngươi đă dùng để đập xuống
sông Nin, và đi đi. C̣n Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên
tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ
chảy ra cho dân uống." Ông Mô-sê đă làm như vậy trước mắt các kỳ mục
Ít-ra-en. ”(Xh 17:2-7).
Họ không có thức ăn ? “ĐỨC CHÚA phán
với ông Mô-sê: "Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi
ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho ḿnh, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn
thử ḷng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không”
Chúa cho mưa manna rơi xuống từ trời (Xh 16:4)
Họ gặp nhiều kẻ thù: người Ai cập, người Amalect: “A-ma-lếch
đến đánh Ít-ra-en tại Rơ-phi-đim... Ông Giô-suê đă dùng lưỡi gươm đánh
bại A-ma-lếch và dân của ông ta.”(Xh 17:8-15), và nhiều sắc dân
khác: “Vua A-rát, người Ca-na-an, cư
ngụ tại Ne-ghép, nghe biết Ít-ra-en theo đường A-tha-rim mà tới, th́ đă
tấn công Ít-ra-en và bắt được một số tù binh... Nhưng vua Xi-khôn không
cho Ít-ra-en băng qua bờ cơi của ông, lại c̣n tập họp toàn dân, ra chặn
đường Ít-ra-en trong sa mạc. Tới Gia-hát, ông giao chiến với Ít-ra-en.
Ít-ra-en vung kiếm giết họ và chiếm đất từ Ác-nôn cho tới Giáp-bốc, đến
tận biên giới con cái Am-mon.... ĐỨC CHÚA phán bảo ông Mô-sê rằng: "Hăy
tấn công quân Ma-đi-an và giết chúng đi. V́ chúng đă tấn công các ngươi,
và dùng mưu mô quỷ quyệt đối với các ngươi trong vụ Pơ-o và vụ Cót-bi,
con gái một thủ lănh Ma-đi-an, chị em của chúng, kẻ đă bị đâm chết ngày
xảy ra tai ương trong vụ Pơ-o.” (Ds 21:1-3; 21-35; 25:16-18 ).
Có cả những xung khắc lănh đạo giữa Mosê
và Aaron : “Bà Mi-ri-am và
ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê
về người đàn bà xứ Cút mà ông đă lấy, v́ ông đă lấy một người đàn bà xứ
Cút làm vợ ... Toàn thể cộng đồng lớn tiếng kêu la, dân chúng khóc lóc
cả đêm ấy. Tất cả con cái Ít-ra-en đều
kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron, toàn thể cộng đồng nói với
các ông: "Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai-cập, hoặc phải chi chúng
tôi chết trong sa mạc này cho xong! ... Cô-rắc, con ông Gít-ha, cháu ông
Cơ-hát thuộc chi tộc Lê-vi, đă lôi kéo những người thuộc chi tộc Rưu-vên,
là Đa-than và A-vi-ram, con của ông Ê-li-áp, với Ôn, con ông Pe-lét.
Họ nổi lên chống ông Mô-sê, và
cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong số con cái Ít-ra-en, là
những người lănh đạo cộng đồng, là thành viên hội đồng và là những nhân
vật tên tuổi. ” (Ds 12:1-16; 14:1-4; 16:1-35)
5-
Hoang địa c̣n là nơi Thiên Chúa mạc khải
Tên của ḿnh: “Ông Mô-sê thưa
với Thiên Chúa: "Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ:
Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi
con: Tên Đấng ấy là ǵ? Th́ con sẽ nói với họ làm sao? " Thiên Chúa phán
với ông Mô-sê: "Ta là Đấng Hiện Hữu." Người phán: "Ngươi nói với con cái
Ít-ra-en thế này: "Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” (Xh
3:13-14)
Và mạc khải sự hiện diện thường trực của
Thiên Chúa ở giữa họ. Đó là cái Lều Tạm chứa hai bia đá khắc 10
điều luật: Sau này Chúa Giêsu lập lại : “Và
đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”( Mt 28:20)
Với một hậu cảnh như thế ,“Ông Gioan
Tẩy giả đă xuất hiện trong hoang địa” chỉ để làm
hai việc: “rao
giảng” và “kêu gọi người ta chịu
phép rửa tỏ ḷng sám hối để được ơn tha tội.”
Ông rao giảng rằng: "Có Đấng quyền thế
hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho
Người. Tôi đă làm phép rửa cho anh em nhờ nước; c̣n Người, Người sẽ làm
phép rửa cho anh em trong Thánh Thần."
Chỉ dừng lại ở chi tiết Gioan “xuất
hiện trong hoang địa”, bài đọc Tin mừng hàm ngụ một thách đố cho
chúng ta : Can đảm
bỏ vùng nô lệ, tiến tới trước, trong hoang điạ, củng cố lại cách thờ
phượng Thiên Chúa, tái lập Giao Ước với Thiên Chúa, đương đầu với những
xung khắc đến từ ngoại lai và từ nội tâm, luôn kiên vững v́ Thiên Chúa
Hằng Hữu luôn “ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.”
_________________
NguyenDucKhang