Home ] Up ] Next ]

 

Chúc Mừng Ḍng Nữ La San được công nhận theo giáo luật, điều 579 ngày 11 tháng 3 năm 2002

 

Ḍng Nữ La San được chính thức công nhận theo giáo luật Ngày 12 tháng 3 năm 2002, một số Anh Chị Em thuộc ḍng LA SAN cùng cựu học sinh và thân hữu La San từ Việt Nam - Thái Lan - HongKong - Singapore - Malaysia - Roma - Hoa Kỳ, đă tề tựu trong ngôi thánh đường màu sắc sặt sỡ nhưng uy nghiêm trang trọng theo kiểu cách Thái, để chào đón Sắc Lệnh do Đức Tổng Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn ban hành, chiếu theo giáo luật, điều 579.

 

Được biết, trước khi sắc lệnh được ban hành, một số Chị Trưởng, ban Cố Vấn của Ḍng Nữ La San đă học hỏi, thảo luận và nghiêm chỉnh nghiên cứu bộ Luật Ḍng vừa được Thánh Bộ đặc trách các Ḍng Tu tại Rôma phê chuẩn.

 

Chiều thứ hai 11-3-2002, Chị Tổng Quyền Mary cùng một số Anh Chị Em đến phi trường BangKok đón Đức Tổng Phạm Minh Mẫn Sáng thứ ba 12-3-2002, Đức Tổng chủ tọa kinh sáng chuẩn bị thánh lễ công bố sắc lệnh.

 

Sau khi công bố sắc lệnh “Hội Ḍng Nữ La San được chính thức thành lập”, Đức Tổng giao bản sắc lệnh cho chị Tổng Quyền Mary Các đại diện 3 vùng Việt Nam, Thái Lan và Hoa Kỳ đón nhận luật ḍng đă được Thánh Bộ Tu Sĩ phê chuẩn Chị Yến Thơ, Giám Tỉnh vùng Việt Nam Chị Ngà Bùi, Giám Tỉnh vùng Hoa Kỳ Chị Anna, Giám Tỉnh vùng Thái Lan.

 

Chị Tổng Quyền Mary và các Chị đă khấn trọn đời lập lại lời khấn ḍng Chị Hoài Châu, cựu Tổng Quyền Chị Yến Thơ, Giám Tỉnh vùng Việt Nam Sau khi lập lại lời khấn, các Chị tuần tự lên bàn thờ, kư nhận vào sổ bộ của Ḍng Nữ La San.

 

Chị Têrêsa Sáng, cựu Giám Tỉnh vùng Hoa Kỳ Chị Ngà Bùi, Giám Tỉnh vùng Hoa Kỳ Anh Chị Em Ḍng La San cùng cựu học sinh và thân hữu, từ Roma, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Hoa Kỳ, HongKong hân hoan chúc mừng các Chị nữ tu Ḍng LaSan.

 

Gia đ́nh Ông bà Lữ, cựu học sinh và là chủ tịch Hội Phụ Huynh học sinh Taberd trước 75 bảo trợ và chi tiêu rộng răi cho ngày vui lớn của Ḍng Nữ La San Ông bà Lữ c̣n tặng quà kỷ niệm, quảng đại “ĺ x́” cho mỗi người tham dự ngày lễ...

 

“Các Chị Em Nữ La San đă trải qua biết bao nhiêu thử thách gian nan...” Đức Tổng nói trước khi công bố sắc lệnh) Tóm lược giai đoạn thăng trầm của ḍng Nữ La San từ 1975-1990 Tại Việt Nam Trong ba năm 1975-1978, các việc thiêng liêng như kinh sáng và kinh tối, nguyện gẫm, thánh lễ, lần hạt và đọc sách thiêng liêng, đều làm chung trong cộng đoàn. Các Sơ đều đặn nghe giảng dạy, tĩnh tâm hàng tháng, và tĩnh tâm hàng năm trong suốt 5 ngày. Nhà tập th́ diễn tiến đều đặn : tập sinh học Kinh Thánh, (bí mật) theo học các khoá huấn luyện, lập lại lời khấn, vv…

 

Về việc tông đồ, một số Sơ dạy lớp ban tối trong khi một số khác (bí mật) dạy giáo lư.

 

Dưới sự ép buộc của chính quyền, các Sơ đă "tự nguyện" dâng hiến trường cho nhà nước.

 

Từ đó trở đi, việc tông đồ của các Sơ phần chính là chứng tá của đời tận hiến, đời sống đức tin vào Thiên Chúa Những năm 1979 - 1988 T́nh thế càng ngày càng căng thẳng hơn. Các ḍng tu không được dung tha. Lục xét và tù tội đă áp đảo tinh thần các tu sĩ nam nữ.

 

Chính sách "hộ khẩu" là phương tiện hữu hiệu mà công an dùng để kiểm soát hầu như toàn diện mọi sự di chuyển của dân chúng. Mỗi gia đ́nh phải có một "hộ khẩu" trong đó ghi tên, ngày và nơi sinh của mỗi thành viên. Bất kỳ người nào bị t́m thấy sinh sống trong một gia đ́nh mà không có tên tuổi trong "hộ khẩu" của gia đ́nh đó đều bị chất vấn và có thể bị tù. Thực tế mà nói, hầu như không thể thay đổi tên tuổi trong "hộ khẩu" này, v́ thế không thể thuyên chuyển các tu sĩ từ nhà này đến nhà khác, hoặc thêm bớt các tu sinh mới.

 

Trong khoảng năm 1979 - 1988, các nữ tu La San có hai cộng đoàn: Mai Thôn và Tân Cang ở Hố Nai. Cộng đoàn Tân Cang chỉ có hai Sơ v́ sự ràng buộc của "hộ khẩu". Đến năm 1980, các Sơ rời khỏi Tân Cang và đi làm việc tại một chỗ khác, vào sâu trong rừng hơn, ấp T́nh Thương. Tại đây, đất có vẻ ph́ nhiêu. Sau những giờ giảng dạy, các Sơ có thể làm việc đồng áng, trồng hoa, đậu, bắp, vv…

 

Trong suốt 10 năm, không thâu nhận một thành viên mới vào cộng đoàn tu sĩ. Thật ra v́ thiếu ngân khoản và trợ cấp, và không có ban huấn luyện, và nhất là v́ hệ thống "hộ khẩu".

 

Tuy nhiên, đến năm 1988, các Sơ đă đón nhận được 2 ứng sinh vào đời tu.

 

Sau khi đă "tự nguyện" dâng cho Nhà Nước cơ sở tông đồ duy nhất của ḿnh, các Sơ rút lui về tu viện; ở đây, các Sơ sống cộng đoàn một cách thiết thực hơn, học hỏi và cùng nhau cảm nghiệm hơn về ư nghĩa ơn gọi làm Nữ Tu La San của ḿnh.

 

Khi cộng đoàn có thể gom tụ hơn 100 trẻ em từ những giáo xứ lân cận đến học giáo lư và sinh hoạt, các Sơ đă t́m lại được can đảm và phấn khởi vững tin hơn vào công việc tông đồ giáo dục của ơn gọi.

 

Trong suốt 7 năm, các Sơ âm thầm giảng dạy giáo lư và chuẩn bị cho các trẻ em nhận lănh các bí tích hoà giải, Thánh Thể và thêm sức. Nhưng sau đó, chính quyền đă yêu cầu các Sơ ngưng các sinh hoạt "phản động" này.

 

Năm 1988, các Sơ dạy khoảng 60 trẻ em. Một hay hai Sơ dạy cho người tân ṭng, và trong năm đó, có đến 92 người lớn nhận bí tích rửa tội.

 

Ngoài những sinh hoạt đó, các Sơ c̣n chăm sóc giúp đỡ và nấu ăn cho các Sư Huynh cao niên tại nhà hưu dưỡng Mai Thôn. Qua h́nh thức tông đồ đặc biệt này, các Sơ muốn tỏ ḷng biết ơn đối với các Sư Huynh trong tinh thần Đại Gia Đ́nh La San, v́ quả thật, Gioan La San là Đấng Sáng Lập cả hai ḍng. Các Sơ t́nh nguyện phục vụ giúp đỡ các Sư Huynh cao niên một cách chân t́nh vui vẻ.

 

Năm 1988 - 1989 Với sự giúp đỡ của Sư Huynh Giám Tỉnh, các Sơ đă có thể theo học các lớp triết và Thánh Kinh, các lớp giáo lư tại đại chủng viện, và cùng lúc đó theo học các lớp văn hoá và huấn nghệ.

 

Sự giúp đỡ của các Sơ ở California và Thái Lan đă cho phép các Sơ ở Mai Thôn theo học chương tŕnh huấn luyện tạm đủ đối với thời buổi lúc đó. Một trong những dự tính quan trọng nhất của các Sơ ở Mai Thôn là tái thiết tu viện hiện tại. Tầng trệt của tu viện này, đến mùa nước lũ, bị ngập tràn hai lần mỗi ngày, tùy theo con nước lên xuống của sông bên cạnh nhà.

 

Các Sơ ở Thái Lan đă không thể thăm viếng cũng như tiếp tế ǵ cho các Sơ ở Mai Thôn một cách đều đặn như các Sơ mong ước : sự nghi ngờ, điều tra, khám xét này nọ đă ngăn trở sự liên lạc kể cả bằng thư từ. Đến tháng Mười năm 1988, Sơ Mary Chindahandamrong đă lần đầu tiên can đảm lướt thắng nguy hiểm để sang thăm viếng Việt Nam, sau 13 năm vắng bóng (1975-1988).

 

Tháng Hai năm 1989, Nhà Ḍng triệu tập Tổng Công Hội lần thứ nhất. Tổng công hội viên gồm có Sơ Theresa Sáng từ San Jose, California; Sơ Mary Ann Sunantha và Mary Chindahandamrong từ Bangkok, Thái Lan; và các Sơ ở Mai Thôn, Saigon - Việt Nam. Các Sơ đă chính thức nhận Ḍng Nữ Tu La San - Saigon. Cùng lúc đó, các Sơ đă chọn Sơ Clara Vơ Thị Hoài Châu làm Tổng Quyền với nhiệm kỳ 3 năm (1989-1992).

 

Tháng 11 năm 1989, Sơ Mary Chindahandamrong và SH Joseph Văn Khôi đến thăm các Sơ tại Mai Thôn. Tổng giám mục Saigon Paul Nguyễn Văn B́nh giao cho SH giám tỉnh Maurice Nguyễn Phú Triều và SH Joseph Văn Khôi chứng từ xác nhận cộng đoàn Mai Thôn là Nhà Ḍng trực thuộc địa phận Saigon.

 

Tháng 6 năm 1990, Sơ Mary Ann chuyển giao phần đóng góp của cộng đoàn Bangkok để tái thiết tu viện tại Mai Thôn. Ước vọng của các nữ tu La San ở Mai Thôn, cuối cùng, đă thành sự thật ngày 23 tháng 9 năm 1990 khi tu viện mới được chính thức khai trương. Hiện diện trong ngày khai trương có các Sư Huynh, những đại diện các Ḍng Tu, giới phụ huynh và thân hữu. Giám mục Paul Nguyễn Văn B́nh đi hội họp ở ngoại quốc, và chẳng may vị giám mục phụ tá Nẫm lại bị tai nạn xe cộ nên không đến tham dự được. Mặc dầu thế, "các Sơ rất vui mừng phấn khởi v́ có được cơ sở mới thật đúng lúc để thay thế ngôi nhà cũ đă bị mối mọt gặm nhấm từ lâu..." Đối với các nữ tu La San, việc tông đồ là điều tối cần thiết. Các Sơ mong ước mở một vườn trẻ cho con em trong vùng, và trở lại với việc tông đồ mà các Sơ đă làm trước thời "rắc rối", bằng cách dùng phần trước của tu viện để thay thế ngôi trường mà các Sơ đă "t́nh nguyện" dâng cho nhà chức trách đương thời.

 

Tại Hoa Kỳ Khi vừa đến Hoa Kỳ, giám mục Donohue địa phận Fresno, cung ứng nhà cửa và các tiện nghi khác cho các Sơ. Các Sư Huynh ở San Francisco cung ứng những nhu cầu cần thiết.

 

Sau 2 năm, các Sơ tự túc về mọi mặt và ở tại Fresno cho đến năm 1980. Sư Huynh George Kohles, fsc, thuộc tỉnh ḍng San Francisco, làm liên lạc viên giữa các Sơ và các Sư Huynh cho đến bây giờ.

 

Năm 1979, theo lời yêu cầu của vị phụ tá giám mục địa phận San Francisco, Pierre Dumaine, các Sơ di chuyển về San Jose để trợ giúp những người Việt công giáo trong địa phận. Linh mục Joseph Cao Phương Kỷ, ss., làm tuyên úy cho các Sơ từ năm 1980.

 

Khi đến San Jose, 2 Sơ lập tức khởi sự dạy giáo lư và tiếng Việt. Dân số người Việt ngày càng tăng và nhu cầu giáo dục cho họ ngày càng cấp bách.

 

Liên lạc giữa các cộng đoàn ngày càng tương đối dễ dàng hơn, Sơ Olivia Thanh từ San Jose - California về quê Mẹ để tuyên khấn trọn đời.

 

Mục tiêu hàng đầu của ḍng Nữ La San là giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ em nghèo. Tuy nhiên, hoàn cảnh thực tế tại Hoa Kỳ không cho phép các Sơ theo đuổi mục đích đó, nên các Sơ dấn thân phục vụ trong công tác từ thiện và xă hội: làm việc trong các nhà hưu dưỡng, các bệnh viện, tại giáo xứ Việt Nam. Làm như vậy, các Sơ vừa tiếp tục lư tưởng sống đời tu La San vừa đáp ứng được 2 nhu cầu : tự túc kinh tế và giúp đỡ các Sơ c̣n ở tại Việt Nam.

 

Trong những ngày cuối tuần, các Sơ thăm viếng những gia đ́nh Việt Nam tị nạn mới đến Hoa Kỳ, và tham gia sinh hoạt với các hội đoàn như Cursillo, Đạo Binh Đức Mẹ, vv…

 

Năm 1991, giám mục địa phận San Jose, Pierre Dumaine viết cho Sư Huynh Tổng Quyền John Joshnston : "Địa phận San Jose chúng tôi đặc biệt vui sướng được sự hiện diện của các Sư Huynh giữa nhiều cộng đoàn tu sĩ khác ở đây. Các Sư Huynh Việt Nam quả đă thực hiện tốt đẹp việc tông đồ loan giảng tin mừng và huấn luyện người công giáo Việt Nam trong địa phận chúng tôi. Chương tŕnh giáo lư thật thành công, lôi kéo hàng trăm thanh niên nam nữ khao khát học hỏi hơn nữa về đức tin. Các Sư Huynh sát cánh làm việc với các Nữ Tu La San và tỏ hiện sự đoàn kết cộng tác vào thừa tác vụ của Giáo Hội địa phương".

 

Tại Bangkok, Thái Lan Nhóm nữ tu La San người Thái đầu tiên xuất phát từ một nguồn gốc khá đặc biệt. SH Joseph Văn Khôi, phụ tá giám tỉnh của phụ tỉnh Thái Lan lúc bấy giờ, là một người bạn thân của gia đ́nh Sơ Anna Souvanna Kingkarn, thuộc ḍng địa phận Các Nữ T́ của Đức Nữ Vương Maria. Sơ này lại có người em trai nguyên là một SH La San. Chắc hẳn Sơ đă nghe nói đến ḍng Nữ Tu La San.

 

Một hôm, Sơ đến gặp SH phụ tá giám tỉnh và xin giúp Sơ t́m một ḍng khác, và nếu được, th́ xin gia nhập ḍng Nữ Tu La San.

 

SH Michael, phụ quyền đặc trách vùng Á Đông thời bấy giờ, và tất cả các SH giám tỉnh đều chấp thuận và khuyến khích sự hiện diện của nữ tu La San tại Thái Lan. SH Bruno Trần Văn Bằng, lúc đó là giám tỉnh Saigon, đề nghị nên gởi các ứng sinh qua Việt Nam để được huấn luyện, sau đó các Sơ sẽ trở về nguyên quán để giúp các Sư Huynh trong việc tông đồ.

 

Một nhóm 4 Sơ, nguyên thuộc ḍng địa phận Nữ T́ của Đức Nữ Vương Maria, được sự chấp thuận của các cơ quan hữu trách, đă đến Saigon ngày 11 tháng 11 năm 1973. Ba tuần sau, một ứng sinh thứ 5 nhập cuộc.

 

Các Sơ Thái bắt đầu năm nhà tập, và tuyên khấn lần đầu trong nhà nguyện của tập viện tại Mai Thôn ngày 26 tháng 12 năm 1974.

 

Sau khi trở về lại Bangkok, và kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1975, các nữ tu La San Thái hầu như hoàn toàn bị mất liên lạc với Nhà Mẹ. Tin tức liên lạc trở thành khó khăn và rất ít, và luôn luôn chuyển nhờ qua trung gian. Sự nghi ngờ, kiểm duyệt, điều tra và lo sợ giữa 2 hai quốc gia làm cho mọi sự liên lạc, ngay cả bằng thư từ, trở thành rất khó khăn. Cộng đoàn Bangkok tuy vẫn tiếp tục tự củng cố chỗ đứng của ḿnh, nhưng đă không thể làm ǵ để giúp đỡ Nhà Mẹ được.

 

Thêm vào đó, giáo quyền Bangkok đ̣i hỏi hồ sơ chứng nhận rằng các nữ tu La San Thái thật sự trực thuộc ḍng đă được giáo quyền Saigon phê chuẩn. Nhiều đề nghị, khuyến khích và khuyên bảo các nữ tu La San Thái nên sát nhập với ḍng Nữ Tu La San Guadalupanas ở Mễ Tây Cơ, v́ ḍng này đă hưởng quy chế ḍng giáo hoàng từ năm 1976.

 

Tuy nhiên, các nữ tu La San Thái không muốn rời bỏ nguồn cội của ḿnh, và chấp thuận chờ đợi, dù phải bị tước mất những quyền lợi mà những ḍng khác đă được chính thức công nhận ở Thái Lan có quyền thừa hưởng.

 

Tháng 8 năm 1988, Sơ Mary Ann Sunantha tham dự Tổng Công Hội của các nữ tu La San Mễ Tây Cơ, và dọ hỏi các Sơ Mễ Tây Cơ có sẵn sàng nhận các nữ tu La San Việt Nam vào ḍng của họ không. Câu trả lời là ưng thuận.

 

Tuy nhiên, các Sơ Thái quyết định chờ đợi, trong khi đó th́ cảm tưởng chung của các Sơ ở San Jose và Mai Thôn th́ không thuận việc sát nhập.

 

Nhân dịp Tổng Công Hội tại Mai Thôn, Saigon, vào tháng 2 năm 1989, các Sơ Thái vui mừng hoà điệu cùng các Chị Em ở San Jose và Mai Thôn tuyên ngôn rằng các Sơ ước muốn giữ chân tính nữ tu La San của ḿnh trong nhà Ḍng Nữ Tu La San thuộc địa phận Saigon, Việt Nam.

 

Các nữ tu La San Thái điều khiển nhà giữ trẻ cho các em bé từ 1 đến 3 tuổi, và một vườn trẻ cho những em bé từ 3 đến 5 tuổi. Nhà giữ trẻ và vườn trẻ này là một phần của trường De La Salle College tại Bangkok của các Sư Huynh.

 

Như để đền bù lại những năm 1975-1988, các Sơ Thái thực hiện 4 cuộc hành tŕnh sang Việt Nam trong những năm 1988, 1989 và 1990.

 

Các Sơ Thái đă hỗ trợ và đáp ứng nhiều nhu cầu cho các Sơ ở Mai Thôn, đặc biệt đóng góp vào việc xây dựng tu viện mới cho Nhà Mẹ.

 

Bản Tin La San số Mùa Xuân 2002

Grêgôriô, fsc