Up ] Đấng Sáng lập ] Đoàn sủng và tinh thần Ḍng MTG ] [ Ḍng MTG tại VN ]

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM
VÀ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ

Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam, do Đức Cha thừa sai người Pháp Pierre Lambert de la Motte thành lập vào năm 1670 tại Việt Nam. Mến Thánh Giá là một Dòng thuần túy Việt Nam đã được thành lập tại Việt Nam để phục vụ cho người Việt Nam. Mỗi Hội Dòng Mến Thánh Giá đều tự lập trong công việc điều hành và trực tiếp thuộc quyền của Đức Giám Mục địa phận nơi có nhà Mẹ. Tuy tự lập về hành chánh, tất cả mọi Hội Dòng Mến Thánh Giá cùng nhìn nhận một người Cha chung là Đức Cha Lambert de la Motte, cùng theo một tinh thần và Linh Đạo Lâm Bích (Lambert), được tóm gọn và chuyển đạt qua Hiến Chương của Dòng Mến Thánh Giá.

Để hiểu thêm về nguồn gốc và sự thành hình của Hội Dòng Mến Thánh Giá, xin mời bạn cùng chúng tôi ngược dòng lịch sử trở về nguồn, với ngày khai sinh của Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam.

Một trong những nét linh thiêng nhất của những dòng lịch sử Mến Thánh Giá là sự góp mặt của các nữ tu Mến Thánh Giá tiên khởi, trong những trang lịch sử oai hùng đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Dưới bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, Dòng Mến Thánh Giá đã được khai sinh vào thời điểm mà Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng đang chập chững vào đời. Do đó, người ta không thể nói đến lịch sử của Dòng Mến Thánh Giá mà không đề cập đến lịch sử của Giáo Hội Công GiáoViệt Nam.

Đầu thế kỷ thứ 16, người ta bắt đầu thấy xuất hiện bóng dáng của các nhà truyền giáo đến từ Âu Châu. Các cha Đa Minh và Phanxicô là những người đầu tiên đặt chân đến Việt Nam từ các ngả Macao và Phi-Luật Tân. Đến đầu thế kỷ thứ 17 thì xuất hiện các cha truyền giáo thuộc Dòng Tên với sự đóng góp rất lớn của Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes).

Cha Đắc Lộ sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp. Ngài chịu chức linh mục trong dòng Tên năm 1612 và bắt đầu sang truyền giáo tại Việt Nam năm 1623. Với một viễn ảnh trung thực và bén nhạy, với một đầu óc tổ chức qui mô, cha được xem là người có công lớn nhất đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Chính ngài đã cải hóa tâm hồn của hàng trăm ngàn người tìm về với Thiên Chúa qua bí tích Rửa Tội. Cũng chính vì lòng quả cảm và sự hăng say đem Tin Mừng của Chúa đến cho Giáo Hội Việt Nam mà cha Đắc Lộ đã được nhiều sự ưu đãi của vua chúa thời bấy giờ. Song song với những ưu đãi đó, cuộc đời truyền giáo của ngài không tránh khỏi những ghen hờn và hiểu lầm đến từ nhiều phía. Kết quả là những cơn bắt đạo thảm khốc và cha Đắc Lộ đã bị trục xuất khỏi Việt Nam tổng cộng là năm lần. Lần cuối cùng là lần ngài chứng kiến tận mắt cảnh một thầy giảng bị chặt đầu. Sự kiện cấm đạo này cho ngài một suy nghĩ mới: nếu muốn công cuộc truyền giáo tại Việt Nam được phát triển và tồn tại, phải cần đến sự hiện diện của các Giám Mục ngoại quốc tại Việt Nam để truyền chức cho các linh mục bản xứ.

 

Cha Đắc Lộ Và Cuộc Vận Động Cho Chương Trình Truyền Giáo Viễn Đông

Suy nghĩ này đã khiến cho cha Đắc Lộ can đảm bắt đầu cuộc hành trình dài ba năm rưỡi đi Roma để thương thảo với tòa thánh về việc gửi Giám Mục sang Việt Nam, việc gây quỹ cho công cuộc truyền giáo và để xin Bề Trên của ngài gửi thêm các linh mục thừa sai. Năm 1649, cha Đắc Lộ đến Roma và bắt đầu thương lượng việc gửi Giám Mục đại diện tông tòa sang Việt Nam. Những bản tường trình của ngài được Đức Thánh Cha Innocent X đón nhận một cách dè dặt, vì tòa thánh sợ ảnh hưởng đến chế độ "Royal Patronage" của người Bồ Đào Nha lúc bấy giờ. Trong khi chờ đợi tòa thánh cứu xét những đề nghị của mình, cha được cử làm trưởng ban để tuyển lựa những ơn gọi truyền giáo cho miền Viễn Đông. Cha nghĩ ngay đến quốc gia của mình là nước Pháp.

Tuy nghĩ đến nước Pháp, nhưng cha Đắc Lộ không dám nghĩ đến dòng của mình là dòng Tên, vì Dòng Tên lúc bấy giờ đang hoạt động truyền giáo tại Việt nam dưới quyền của vua Bồ Đào Nha. Sau khi đến Paris, cha Đắc Lộ làm quen với cha Bagot và hiệp hội do ngài thành lập, mang tên là nhóm "Bạn Hiền" (Les bons Amis). Sau khi nghe cha Đắc Lộ trình bày về công việc truyền giáo tại Việt Nam, ba thành viên của hiệp hội saün lòng đáp ứng nguyện vọng đi truyền giáo tại Viễn Đông. Ba người này là Francois de Montingy-Laval, Francois Pallu và Bernard Piques.

Tháng 3 năm 1653, cha Đắc Lộ phấn khởi viết thư giới thiệu ba ứng viên với Tòa Thánh. Thêm vào đó, Đức Ông Bagni ở Roma cũng viết thư cho tòa thánh nói lên sự ủng hộ của ngài và cho biết là Bà Bá Tước Avignon, Đức Tổng Giám Mục Paris và "Hiệp Hội Thánh Thể" hứa sẽ giúp đỡ gây quỹ cho công cuộc truyền giáo này. Một lần nữa, những lá thư và lời thỉnh cầu của Cha Đắc Lộ đã được tòa thánh đón nhận trong dè dặt, vì Bồ Đào Nha đã biết sự việc và dọa là sẽ bỏ tù bất cứ giám mục Pháp nào do Tòa Thánh gửi sang truyền giáo ở Á Châu. Sự kiện này làm đình trệ công việc đến năm 1655. Đây cũng là năm Đức Giáo Hoàng Innocent X qua đời. Cha Đắc Lộ lúc này đã 64 tuổi. Nhận thấy ước vọng của mình chưa đến lúc được thực hiện, ngài chấp nhận thánh ý Chúa, vâng lời Bề Trên sang truyền giáo bên Ba Tư (Persia) và qua đời tại Ba Tư năm 1660.

 

Francois Pallu, Lambert De La Motte Và Chương Trình Truyền Giáo Viễn Đông

Việc chấp thuận đi truyền giáo tại Ba Tư của cha Đắc Lộ khiến cho người ta nghĩ rằng công cuộc vận động cho chương trình truyền giáo tại Viễn Đông xem như đã kết thúc. Tuy nhiên, Thần Khí của Chúa tiếp tục nung cháy ngọn lửa hy vọng và tinh thần phấn khởi trong lòng của một nhóm thanh niên thuộc nhóm "Bạn Hiền". Nhóm này gồm năm người dưới sự hướng dẫn của Cha Francois Pallu. Họ đã không để lỡ thời cơ và quyết định lên đường đi Roma để xin yết kiến Đức Giáo Hoàng Alexandre VII (1655-1667). Sau buổi triều yết, nhận thấy lòng nhiệt thành của Pallu và bạn hữu, Đức Thánh Cha liền cử một ban gồm bốn Hồng Y để nghiên cứu vấn đề. Chờ đợi mãi không thấy kết quả, bốn người trở về Pháp và chỉ còn một mình cha Pallu nán lại Roma. Trong lúc bế tắc, cha Pallu nghĩ ngay đến một người bạn luật sư mới quen trong nhóm "Bạn Hiền" và liền viết thư để xin bạn cộng tác. Người bạn đó không ai khác hơn là Pierre Lambert de la Motte, người đã sáng lập Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam sau này.

Lambert de la Motte sinh năm 1624 tại Lisieux. Lớn lên trong một gia đình đạo hạnh, và được theo học trong trường các cha dòng Tên, ngài đậu bằng luật sư năm 1645. Nhưng sau một thời gian hành nghề, ngài nghe tiếng gọi của Chúa, vào chủng viện và chịu chức linh mục năm 1655. Lambert có một người em tên là Nicholas de la Motte, là thành viên của nhóm "Bạn Hiền" cùng với Francois Pallu. Trong những chuyến đi công tác tại Paris, cha Lambert thường lưu lại với Nicholas, nhờ vậy cha Lambert mới nghe biết về sự phấn khởi trong công việc truyền giáo tại Viễn Đông của nhóm này.

Sự nhiệt thành của Đắc Lộ cũng được sự ủng hộ của một tổ chức mang tên "Hiệp Hội Thánh Thể" do quận Công Henri Levis thành lập. Lambert de la Motte, Vincent de Paul và Jean Eudes đều là thành viên của hiệp hội này và hết lòng ủng hộ cho công cuộc vận động cho chương trình truyền giáo Viễn Đông của Đắc Lộ. Khi nhận được thư mời cộng tác của cha Pallu, Lambert de la Motte bàn hỏi với Cha Linh Hướng để tìm thánh ý Chúa. Ngày 8 tháng 11 năm 1657, ngài quyết định lên đường đi Roma.

Vừa đặt chân đến Roma, Lambert de la Motte dùng những kinh nghiệm trong nghề luật sư của mình để bắt tay vào việc. Trước hết, ngài khám phá ra lý do sự bế tắc của cuộc thương thảo, là vì Bà Bá Tước Aiguillon chưa gửi tiền để gây dựng cho quĩ truyền giáo như đã hứa. Cha Lambert liền gom góp tài sản của mình để mở một ngân quỹ trong khi chờ đợi sự trợ giúp. Kế đến là vấn đề của Đức Ông Alberici (có nơi ghi là Đức Hồng Y), tổng thư ký của thánh bộ Truyền Giáo, người hoàn toàn chống đối chương trình truyền giáo Viễn Đông và không muốn đối thoại với bất cứ một ai về vấn đề này. Nhưng sau một tuần lễ chờ đợi với chiến thuật "hãy gõ thì sẽ mở", cha Lambert đã được Đức Ông Alberici, trong sự bực bội, chấp thuận cho gặp, với mục đích là sau buổi yết kiến thì ngài sẽ không còn phải đương đầu với con người lì lợm và kiên cường của cha Lambert nữa. Buổi họp sáng hôm sau diễn ra trong vòng 11 tiếng và cuối cùng là Đức Ông Alberici đã bị cha Lambert chinh phục, không còn nghi ngờ về sự quyết tâm và tinh thần truyền giáo của Pallu, Lambert và bạn hữu nữa.

Ngày 29 tháng 7 năm 1658, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII bổ nhiệm Cha Francois Pallu làm Giám mục hiệu tòa Heliopolis và Cha Lambert de la Motte làm Giám Mục hiệu tòa Berythe. Sau đó không lâu, ngày 9 tháng 9 năm 1659, tòa thánh lại bổ nhiệm hai vị này làm Đại Diện Tông Tòa: Đức Cha Pallu đảm nhiệm Đàng Ngoài Việt Nam (Bắc), Lào và năm tỉnh miền Nam Trung Hoa; Đức Cha de la Motte phụ trách Đàng Trong Việt Nam (Nam), Chiêm Thành, Cam Bốt, cộng với bốn tỉnh miền Tây và Nam Trung Hoa với đảo Hải Nam. Ít lâu sau đó thì vị Giám Mục thứ ba là Ignace Cotolendi được bổ nhiệm làm Đại Diện Tông Toà miền Nanking.

Trước khi lên đường đi truyền giáo, cha Lambert de la Motte và Francois Pallu trở về Pháp thu xếp công việc, đồng thời xúc tiến việc thành lập hội Thừa Sai Ba Lê (Les Missions Étrangères de Paris) với mục đích đào tạo những thành viên tương lai cho công cuộc truyền giáo. Ngày 11 tháng 6 năm 1660, Lambert de la Motte được tấn phong Giám Mục trong nguyện đường Dòng Thăm Viếng tại Pháp. Ngày 27 tháng 11 năm 1660, Đức tân Giám Mục cùng với hai cha Jacques de Bourges và Francois Deydier rời Marseille lên tầu vượt Địa Trung Hải đi Thái Lan. Đức Cha Cotolendi ngã bệnh trong cuộc hành trình và qua đời trước khi đến thí điểm truyền giáo. Vì phải lo tổ chức cho tu hội mới được thành lập, nên mãi đến năm 1662 Đức Cha Pallu mới lên đường sang Thái Lan.

 

Lambert de la Motte và Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam

Sau khi rời Paris đi Marseille để cùng với phái đoàn lên tầu vượt Địa Trung hải ngày 27 tháng 11 năm 1660, Đức Cha Lambert được tin vua Bồ Đào Nha đã ra chỉ thị bắt các vị đại diện Tông Tòa, dẫn về Lisbon. Vì vậy, ngày 16 tháng Giêng năm 1661, Đức Cha Lambert cùng với phái đoàn đã phải lên bờ Syria tại Alexandrette, bắt đầu một cuộc mạo hiểm bằng đường bộ từ Syria qua Iran, Iraq, đến Ấn Độ và Thái Lan để tránh sự kiểm soát của người Bồ Đào Nha. Đây là một cuộc hành trình đầy gian nguy và thử thách, như gặp thú dữ, thời tiết thay đổi, ăn uống kham khổ và gặp trộm cướp. Cuối cùng Đức Cha Lambert và phái đoàn đã đến được Juthia, thủ đô Thái Lan ngày 22 tháng 8 năm 1662. Lúc đó ở Việt Nam đang có những cuộc bách hại dữ dội, ngài không thể đến Đàng Ngoài được nên đã chọn Juthia làm trung tâm của các nhà thừa sai từ Âu Châu đến truyền giáo tại vùng Đông Nam Á.

Vì Đức Cha Pallu bận rộn với nhiều chuyến công tác qua lại giữa Âu Châu và vùng Đông Nam Á, Đức Cha Lambert đã thay thế ngài làm những chuyến kinh lý cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Ngài thực hiện được một số những công trình đáng kể sau đây:

Các vị đại diện Tông Tòa tiên khởi đã gặp rất nhiều gian nan, thử thách, như việc Đức Cha Pallu gặp bão tố và tầu giạt vào Phi Luật Tân. Nơi đây ngài bị nghi ngờ là gián điệp, bị giam và đưa về Madrid, nhưng sau được tòa thánh can thiệp. Một trở ngại khác là sự tranh chấp giữa các vị đại diện Tông Tòa và các cha dòng Tên, đưa đến việc rút phép thông công lẫn nhau. Tuy vậy các ngài đã không nản chí trước những thử thách của một đời truyền giáo, luôn trung thành với giáo hội trong công cuộc đem Tin Mừng đến cho tha nhân và để lại cho giáo hội Việt Nam những hạt giống Đức Tin tiếp tục triển nở qua nhiều thời đại.

Linh mục sử gia Ravier Khánh, trong cuốn sử ký Hội Thánh in năm 1894, cho biết vào khoảng năm 1640, đời Chúa Trịnh Tráng, khi việc truyền giáo của các Cha Dòng Tên và các Thầy Giảng Việt Nam đang phồn thịnh với khoảng một trăm ngàn giáo hữu, một trăm nhà thờ và một trăm ba mươi nhà nguyện, thì bỗng nổi lên cơn bắt đạo, thời gian bắt đạo lúc đó chỉ kéo dài trong ba tháng.

Những dòng lịch sử ban đầu liên quan đến nguồn gốc của chị em Mến Thánh Giá tiên khởi được ghi lại như sau:

"Bấy giờ có ba người nữ xứ đông đã khấn giữ mình đồng trinh trọn đời, thoạt khi nghe tin chúa ra chỉ cấm đạo, thì đến Kẻ Chợ (Hà Nội) cho được xưng đạo ra trước mặt chúa. Khi đi dọc đàng, phải nhiều sự khổ sở, song đến Kẻ Chợ thì chúa đã tha đạo rồi. Bấy giờ ba người nữ ấy dốc lòng chẳng hề lìa nhau nữa, một ở chung với nhau cho được tập đi đàng nhân đức. Về sau có nhiều người nữ khác bắt chước ba người ấy. Có lời truyền khẩu rằng: nhà mụ Bái Vàng trong tỉnh Hà Nội là nhà mụ trước hết trong nước An Nam, phỏng thì là nhà ba người nữ ấy đã lập ra mà ở. Ấy là gốc tích nhà mụ."

Các phụ nữ thuộc nhóm kể trên có thể đã được các cha Dòng Tên huấn luyện tu đức và hướng dẫn về đời sống độc thân vì Nước Trời và tinh thần nghèo khó Phúc Âm, nhưng vì hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ, các ngài chưa dám nghĩ tới việc thành lập một hội dòng cho nữ giới.

Năm 1666, cha Francois Deydier đến Đàng Ngoài, gặp hai nhóm trinh nữ với tổng số khoảng 30 người muốn chung sống với nhau. Trong lá thư đề ngày 1 tháng 11 năm 1667, ngài phúc trình cho Đức cha Pallu về mối quan tâm muốn soạn thảo một bản luật cho một nhóm phụ nữ, nhưng vì thiếu phương tiện và thời giờ nên chưa thực hiện được.

Tháng 8 năm 1666, khi Đức Cha Lambert tới kinh lý đàng Ngoài, cha Deydier giới thiệu với ngài các nhóm trinh nữ nói trên. Sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng, Đức Cha mạnh dạn quyết định chính thức thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Kiên Lao (Nam Định, ngày nay thuộc giáo phận Bùi Chu) và Bái Vàng (Hà Nam, ngày nay thuộc giáo phận Hà Nội). Ngài trao cho các nữ tu này bản luật do ngài soạn thảo:

"Khi chưa biết chị em và chưa hề nghe nói đến chị em, thì từ lâu trước, thầy đã được ơn thúc giục trong lòng để soạn bản qui luật này cho một số linh hồn được Thiên Chúa sủng ái khác thường. Vậy chị em hãy nhận lấy bản qui luật này do Thiên Chúa hơn là do thầy, và vững tin rằng, nếu chị em đi con đường toàn thiện này, chị em sẽ đạt tới cao độ hiểu biết và yêu mến Chúa."

Năm nhiệm vụ chính của Nữ Tu Mến Thánh Giá: trong bản luật tiên khởi, Đức Cha Lambert đề cập đến 5 nhiệm vụ:

1. Luôn luôn kết hợp nước mắt thống hối, lời cầu nguyện và việc hãm mình, hoà với công nghiệp Chúa Cứu Thế để cầu xin cho kẻ ngoại trở lại, trong ba địa phận Trung Hoa, Đàng Trong và Đàng Ngoài.

2. Dạy dỗ các trẻ nữ và thiếu nữ, không phân biệt tôn giáo.

3. Săn sóc các nữ bệnh nhân, công giáo hay ngoại giáo.

4. Rửa tội cho các trẻ nhỏ trong lúc cấp bách.

5. Cố gắng đưa những phụ nữ, thiếu nữ hoang đàng, trở về đường lương hảo.

Đức Cha đích thân nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi là Anê và Paula tại Phố Hiến vào ngày lễ Tro 19-2-1670. Ngày này đuợc ghi nhận như là ngày chính thức khai sinh dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Việt Nam.

Sau cuộc kinh lược địa phận Đàng Ngoài, Đức Cha Lambert trở về Thái Lan. Tháng 9, 1671, ngài đặt chân lần đầu tiên đến địa phận thực thụ của Ngài là Đàng Trong. Ngài triệu tập công đồng địa phận tại Hải Phố (Hội An). Cuối năm 1671, ngài thành lập tu viện Mến Thánh Giá đầu tiên tại An Chi, Quảng Ngãi. Ngày 12-10-1670, Đức Cha phúc trình với Toà Thánh về việc thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá. Trong lá thư đề ngày 20-10-1670 viết về cho Bề Trên của Ngài ở Hội Thừa sai Balê, Đức Cha Lambert viết như sau:

"Nếu tin ấy làm cho Cha vui mừng, thì tin này làm Cha vui mừng không kém. Ấy là tin mấy phụ nữ đạo đức đã đặt nền tảng đời sống tu trì trên đất nước này. Sau khi xem xét ơn phúc của họ, khuynh hướng tốt của họ, đường lối của Chúa đối với họ, và những việc thực hành của họ từ nhiều năm trước, tôi đã thảo cho họ một qui luật và tôi cũng đã gửi về toà thánh để xin duyệt xét và chấp nhận nếu được."

Bản Qui Luật tuy không được tòa thánh trực tiếp phê chuẩn bằng một sắc dụ Giáo Hoàng như bản luật các dòng tu kỳ cựu trong Giáo Hội, nhưng được tòa thánh công nhận cách gián tiếp qua nghị định ngày 28-8-1678 của Thánh Bộ Truyền Giáo. Nghị định ban các ân xá và xác nhận việc các vị đại diện tông tòa "thiết lập" các tu hội.

Trưởng thành qua những thăng trầm của lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, chị em nữ tu Mến Thánh Giá vẫn kiên trì và không nản lòng trước những cơn thử thách. Ơn gọi mỗi ngày một đông. Từ Đàng Ngoài, trong thư gửi cho Mẹ đề ngày 6.11.1701, cha Guisain viết như sau:

"Ở địa phận này, chúng tôi còn có hai chục nhà nữ tu gọi là Dòng Mến Thánh Giá, mặc dù họ chưa đạt đến trình độ như những nữ tu châu Âu, nhưng có thể nói rằng họ sống một đời sống khá khổ hạnh và rất nghèo khó, chỉ sống bằng công việc do mình làm ra và chút tiền làm phúc của giáo hữu. Họ chăm đến đọc kinh tại các nhà bệnh nhân và giúp đỡ họ trong các nhu cầu thiêng liêng và vật chất."

Trong thời kỳ cấm đạo khắt khe, chị em đã đóng góp rất nhiều trong sứ mạng duy trì đức tin, như liên lạc giữa các giám mục và linh mục, rửa tội cho trẻ em sơ sinh, giúp đồng bào trốn trong tu viện, thăm viếng và trao Mình Thánh Chúa cho các cha và các tù nhân trong khám đường, an ủi những người đau yếu. Trong thời gian này, hơn 30 tu viện bị tàn phá, hơn 2,000 chị em bị phân tán và hơn 300 chị em đã đổ máu vì đức tin. Riêng tại Huế có 56 chị bị thiêu sinh trong nhà thờ và hai chị khác bị chôn sống. Suốt hơn hai thế kỷ cấm đạo, chị em Mến Thánh Giá đã biểu lộ một đức tin anh hùng không kém các "phụ nữ hùng dũng" thời các thánh Tông Đồ. Chị em đã sống trọn vẹn lý tưởng nguyên thủy của mình là mang trong bản thân sự thương khó của Chúa Kitô, hầu góp phần trong công cuộc cứu chuộc nhân loại.

Qua Thánh Giá, đến vinh quang. Sau thời kỳ bắt đạo, năm 1874, các tu viện lại mọc ra như nấm và lan rộng hầu hết các địa phận, ngoại trừ các địa phận thuộc các cha Đa Minh. Các chị em lại tiếp tục hăng say xông pha vào các thôn làng để rao giảng lời Chúa và khuyên nhủ lương dân trở lại, đặc biệt chị em quan tâm đến việc dạy giáo lý cho trẻ em, trợ giúp các linh mục trong công việc mục vụ giáo xứ, săn sóc người nghèo, bệnh nhân và giúp đỡ những thiếu nữ trụy lạc.

Các Hội Dòng Mến Thánh Giá tiếp tục phát triển đời sống tu dòng với ba lời khấn đơn. Mãi đến năm 1925, Hội Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm mới tiên phong trong việc hợp thức hóa lời khấn theo Giáo Luật.

* Các Dòng "Đức Mẹ" phát xuất từ Dòng Mến Thánh Giá gồm có:

Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm: được thành lập tại Phú Xuân, Huế, do Đức Cha Joseph Allys (Lý) sáng lập năm 1920. Ngài chọn 7 chị em Mến Thánh Giá làm đội tiên phong cho dòng mới.

Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi: Dòng này phát sinh từ Hội Dòng Mến Thánh Giá Bùi Chu. Năm 1946, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn có ý thống nhất và cải cách Dòng Mến Thánh Giá nên lập ra dòng mới này, thâu nhận các chị em Mến Thánh Giá Bùi Chu. Cha Vũ Ngọc Hoàn, rồi Cha Phạm Châu Diên được cử làm Bề Trên. Di Cư vào Nam Năm 1954, Dòng thiết lập tại Chí Hòa (Saigon).

Dòng Nữ Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Vương: Khi Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn tập hợp các chị em Hội Dòng Mến Thánh Giá địa phận Bùi Chu vào Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi (1946), thì một số 9 chị thuộc dòng Mến Thánh Giá ở Liên Thượng xin được sống theo tổ chức cũ để duy trì sự có mặt của dòng Mến Thánh Giá tại Bùi Chu. Lời thỉnh cầu này được Đức Cha chấp thuận. Năm 1952, Dòng được thiết lập theo Giáo Luật, mang danh hiệu Mến Thánh Giá Bùi Chu. Cha Trần Đình Thủ được cử làm Bề Trên (lúc đó, Cha Trần đình Thủ đang thành lập Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc). Di cư vào Nam, dòng tạm trú tại Quới Sơn, Mỹ Tho. Năm 1956, thiết lập cơ sở tại Bùi Môn do Cha Vũ Ngọc Hoàn (Đồng Công) làm Bề Trên. Năm 1959, Đức Cha Phạm Ngọc Chi ban phép thí nghiệm một bản Hiến Pháp mới. Ngày 30-4-1960, Toà Thánh chấp thuận, và cho phép dòng đổi tên là Dòng Nữ Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Vương.

Khai sinh trong cùng một thời điểm với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, một giai đọan đầy gian truân và thách đố, Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam đã trưởng thành trong máu lửa và tiếp tục tăng triển trong tình thương quan phòng của Thiên Chúa. Theo thống kê tháng Giêng năm 2000, hiện nay có 24 Hội Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam phát sinh từ một người cha tinh thần là Đức Cha Lambert de la Motte, và cùng chia sẻ một tinh thần qua Linh Đạo Lâm Bích.

Các Hội Dòng Mến Thánh Giá VN (Thống kê 01/2000)

Tên Hội Dòng Giáo Phận Thành Lập Ghi Chú

1

Mến Thánh Giá Kiên Lao

Tỉnh Nam Định

Bùi Chu 1670

2

Mến Thánh Giá Huế (Thủ Đô) Huế 1719  

3

Mến Thánh Giá Hưng Hóa Hưng Hóa 1786  

4

Mến Thánh Giá Cái Nhum Vĩnh Long 1800  

5

Mến Thánh Giá Cái Mơn Vĩnh Long 1844  

6

Mến Thánh Giá Vinh (Xã Đoài) Vinh 1844  

7

Mến Thánh Giá Chợ Quán T.P. HCM 1852  

8

Mến Thánh Giá Thủ Thiêm T.P. HCM 1840  

9

Mến Thánh Giá Phát Diệm Phát Diệm 1902 Xã Lưu Phương

10

Mến Thánh Giá Gò Vấp

Gốc Phát Diệm

T.P. HCM 1902  
     

11

Mến Thánh Giá Hà Nội Hà Nội 1928  

12

Mến Thánh Giá Đà Lạt Đà Lạt 1932 Gốc Thanh Hóa

13

Mến Thánh Giá Thanh Hóa Thanh Hóa 1932 Tỉnh Thanh Hóa

14

Mến Thánh Giá Khiết Tâm T.P. HCM 1938 Gốc Hà Nội

15

Mến Thánh Giá Nha Trang Nha Trang 1955  

16

Mến Thánh Giá Sóc Trăng Cần Thơ 1958  

17

Mến Thánh Giá Qui Nhơn Qui Nhơn 1958  

18

Mến Thánh Giá Tân Lập T.P. HCM 1960 Gốc Thái Bình

19

Mến Thánh Giá Tân Việt T.P. HCM 1963 Gốc Thái Bình

20

Mến Thánh Giá Tân An Mỹ Tho 1963  

21

Mến Thánh Giá Bắc Hải Xuân Lộc 1963 Gốc Hải Phòng

22

Mến Thánh Giá Thủ Đức T.P. HCM 1965 Gốc Bắc Ninh

23

Mến Thánh Giá Phan Thiết Phan Thiết 1983  

24

Mến Thánh Giá Los Angeles

(Hoa Kỳ)

Los Angeles 1992 Gốc Phát Diệm (Gò Vấp)

Nguồn: HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ PHÁT DIỆM TẠI HOA KỲ

Back ] Up ]

 


cập nhật ngày 23 tháng 12 năm 2005

© 2005 Gia Nhân

Hosted by Web Hosting Công Giáo miễn phí