.

                GIÁO PHẬN NHA TRANG

Kiến trúc Đại Chủng Viện Sao Biển

Home
Up
Kiến trúc Đại Chủng Viện Sao Biển
Đào tạo Linh Mục Giáo phận Nha Trang

Home ] Up ] Next ]

Bạn có biết ?

NÉT KIẾN TRÚC

ĐẠI CHỦNG VIỆN SAO BIỂN NHATRANG

 

A. CÔNG TR̀NH KIẾN TRÚC ĐẠI CHỦNG VIỆN SAO BIỂN NHA TRANG

I. Khái quát :

 Đại Chủng Viện Sao Biển Nha trang là một công tŕnh kiến trúc, vừa hiện đại vừa mang bản sắc văn hoá dân tộc, kết hợp được cả kỹ thuật và mỹ thuật Đông- Tây. Thuận theo phong thổ đặc thù địa phương, kiến trúc Đại Chủng Viện quay về hướng Đông Nam với ba khối nhà từ thấp lên cao, tạo cảnh đẹp và đón được làn gió biển trong lành, thoáng mát.

 1. Khối nhà trung tâm

 Khối nhà này mang h́nh dáng của một con thuyền lớn tượng trưng cho việc truyền giáo "Hăy ra khơi". Nó được kiến trúc và trang bị theo một phong cách độc đáo với các đặc điểm riêng.

Hàng cột hiên đứng trên nền tạo cảm giác chiều cao.

Hai bên đều có ba cột, theo thế chân kiềng tạo sự vững Chăi, kiên cố.

Bờ nóc, bờ quyết thẳng chứ không uốn cong.

Các liên ba đồ bản bên trong, các v́ kèo và hệ thống con-xơn được trang trí bằng những nét chạm trổ tinh vi và phong phú.

Khối nhà này có ba tầng :

Tầng trệt gồm pḥng Khánh tiết, pḥng ăn và nhà bếp.

Tầng một gồm pḥng Hội Chung và Thư Viện.

Tầng hai là Nhà Nguyện.

 a. Pḥng Khánh tiết :

 Đây là địa điểm đón tiếp đầu tiên và là phần nền của khối nhà Trung Tâm Đại Chủng Viện. Pḥng Khánh tiết là nơi tiếp đón quí khách của Đại Chủng Viện. Nó được cấu trúc rộng răi thoáng mát với các khung cửa thông ra bốn hướng. Trần nhà và các v́ kèo được trang trí bằng những đường nét mang tính văn hoá dân tộc.

 Trên nền bức tường chính là bức chạm h́nh trống đồng Ngọc Lũ tiêu biểu nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

 Trên các bức tường khác là các bộ tranh sơn mài theo nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Các bộ tranh gồm có :

 - Cầm Kỳ Thi Họa.

 - Bồng Lai tiên cảnh.

 - Mă Đáo thành công.

 Các bộ bàn ghế Chạm trổ được bài trí cân đối hài hoà gọn ghẽ.

 b. Pḥng ăn :

 Rộng răi, sáng sủa, thoáng mát với sức chứa trên 300 người. Trên tường có bộ Tứ nghệ của Dân tôc Việt Nam : Ngư Tiều Canh Mục vừa có giá trị nghệ thuật vừa mang giá trị giáo dục nhân bản.

"Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần"

 Sau pḥng ăn là nhà bếp Đại Chủng Viện.

 c. Gian pḥng trống (Préau)

 Nơi dành cho các sinh hoạt giải trí, văn nghệ bỏ túi. Tại đây c̣n có 4 pḥng học thực hành cho các môn : Vi tính, hội họp, âm nhạc.

 d Pḥng hội chung

 Nơi tổ chức các cuộc hội thảo và sinh hoạt văn hoá văn nghệ của Đại Chủng Viện. Toàn thể cấu trúc như một hội trường lớn, có sân khấu và ghế ngồi cho khoảng 300 khán thính giả.

 e. Thư viện

 Được chia thành hai pḥng: Pḥng bảo quản sách và pḥng đọc sách rộng răi, thoáng mát, có hệ thống điện, quạt tạo điều kiện cho việc nghiên cứu. Các sách tham khảo và nghiên cứu đa dạng dành cho các khoa Triết học, Thần học, Nhân văn, Xă hội...

 f. Nhà nguyện

 Đây là trái tim của Đại Chủng Viện, nơi mà mọi sinh hoạt Đại Chủng Viện đều qui hướng vềà cũng từ đây sức sống lan tỏa đến toàn Đại Chủng Viện, v́ đây là nơi cử hành phụng vụ. Nhà nguyện Đại Chủng Viện có sức chứa khoảng 2000 người được kết cấu theo đường nét kiến trúc độc đáo.

Hệ thống v́ kèo nóc nhà theo kiểu v́ kèo "Chồng rường-giả thủ", được khuôn kết với rường cột, xuyên trấn liên hoàn. Đây là sự kết hợp hài hoà giữa các kiểu cấu trúc và trang trí mỹ thuật vừa có sức chịu lực nâng đỡ mái nhà, vừa tạo đường nét thẩm mỹ. Tất cả đều được đúc liên kết thành một khối bê tông vững chắc.

Trong ḷng nhà nguyện có 12 cột tṛn lớn tượng trưng cho 12 Tông đồ cột trụ Hội Thánh, xuyên chỉ vươn ra lưng chừng như cánh tay giang rộng đỡ lấy toà nhà. Ở mỗi "cánh tay" có treo một đèn lồng tỏa sáng tựa như ánh sáng lan tỏa nơi các Tông đồ "Các con hăy nên ánh sáng chiếu rọi thế gian". )

Cung Thánh nổi bật với bức phù điêu Chúa Kitô Phục sinh thăng vinh bằng đá dán (mosaique) rất mỹ thuật do bàn tay khéo léo của Cha Phaolô Nguyễn Đ́nh Vịnh.

Một bàn thờ đặt giữa cung thánh được làm hoàn toàn bằng khối gỗ đặc. Mặt bàn thờ đặt trên hai trụ gỗ lớn chạm rồng chỉ 2 cột trụ Phêrô và Phaolô. Chung quanh được chạm trổ với những hoa văn tinh đẹp. Trước bàn thờ là một đỉnh hương trầm mang nét văn hoá Việt nam. Sau bàn thờ có 9 ngai tượng trưng chốn cửu trùng, chỗ vua chúa ngự...

Trần nhà nguyện trang trí những nét hoa văn, cũng để hấp thụ một phần âm thanh, khắc phục hiện tượng phản xạ, gây nhiễu, làm cho âm thanh được nghe rơ ràng.

 Tóm lại, toàn bộ khối nhà trung tâm này mang một ư nghĩa tiêu biểu làm nổi bật mục đích của nơi đào tạo các Linh mục tương lai - Đào tạo về 4 chiều kích theo tinh thần của Tông Huấn Pastores dabo Vobis.

 a. Chiều kích nhân bản: Tầng trệt với pḥng khánh tiết và pḥng ăn nhấn mạnh việc giáo dục chủng sinh trở thành những con người trưởng thành nhân bản thực sự nhờ "học ăn, học nói, học gói, học mở". Đây là chiều kích nền tảng, thiếu nó mọi chiều kích khác không đứng vững.

 b. Chiều kích tri thức: Tầng một với pḥng hội chung và thư viện nơi để các chủng sinh nghiên cứu, tham khảo, học hỏi qua sách vở báo chí cũng như qua thuyết tŕnh, hội thảo hay hội diễn văn nghệ.

 c. Chiều kích tâm linh và mục vụ: Tầ⮧ hai với nhà nguyện, nơi Chủng sinh gặp gỡ, sống với Chúa, tham dự phụng vụ để nhờ đó người Linh mục tương lai mới trở nên chứng nhân rao giảng Tin Mừng và là mục tử phục vụ Thiên Chúa và Hội Thánh.

 2. Khối nhà 5 tầng

 Nơi học và nơi nghỉ của chủng sinh.

 a. Tầng trệt : gồm ba pḥng học cho lớp Triết học và hai lớp Thần học, một pḥng đọc báo.

 b. Tầng 1 gồm :

Pḥng học chung cũng là pḥng giải trí (Tivi và Video).

Hai pḥng cá nhân dành cho Giáo sư.

Pḥng truyền thống của Đại Chủng Viện.

 c Tầng 2,3,4,5 : pḥng ngủ của các Chủng sinh lớp Triết 1-2 và Thần học 1-2, mỗi tầng có 8 pḥng, mỗi pḥng đều được trang bị bàn, ghế, kệ sách, giường ngủ cho từng Chủng sinh và hai tủ lớn (Placard).

 Cuối mỗi dăy của mỗi tầng là các pḥng tắm và pḥng vệ sinh. Riêng ở tầng hai c̣n có pḥng y tế để chăm sóc sức khỏe cho Chủng sinh.

 3. Khối nhà ba tầng

 a. Khu E (dăy dài song song với khối nhà 5 tầng)

 Tầng trệt : gồm có pḥng làm việc của Đức Cha Phó Nha trang - Giám đốc Đại Chủng Viện, pḥng khách của các Cha, pḥng ở và làm việc của Cha Quản lư, và các pḥng dành cho các Cha Giáo sư ở xa đến.

 Tầng 1,2 : gồm có pḥng của Đức Cha chính Nhatrang, pḥng ở của Đức Cha phó Nha trang, và các pḥng dành cho các Đức Cha khách.

 Tầng 3 : gồm các pḥng riêng dành cho các thầy Phó tế, trong thực tế các pḥng này dành cho các Chủng sinh Thần học 3,4.

 b. Khu B (giữa khối trung tâm và khối nhà 5 tầng).

 Gồm các pḥng ở và làm việc của Cha Phó giám đốc và Cha Linh hướng.

 c. Khu D : (giữa khối trung tâm và khu E).

 Gồm các pḥng của Đức Cha phó Banmêthuột, Cha Giám luật và thư viện

 Nh́n từ trên cao xuống, toàn bộ kiến trúc của Đại Chủng Viện mang h́nh Thánh giá chữ T. Phần thân là nhà nguyện và hai bên như hai cánh tay vươn dài bao trọn toàn Đại Chủng Viện, tựa như chính Chúa Giêsu giang rộng tay ôm trọn các "đệ tử" của Ngài để huấn luyện. Đó cũng là tư thế của đôi tay giang rộng để sai các "đệ tử" hăy ra khơi cho cánh đồng truyền giáo.

 

B. CÁC BIỂU TƯỢNG VÀ H̀NH ẢNH ĐƯỢC TRANG TRÍ VÀ TRƯNG BÀY TRƯỚC TIỀN SẢNH VÀ TRONG CÁC PH̉NG

 

I. Mặt trước khối trung tâm

 Nh́n toàn cảnh mặt tiền gian giữa, phần trên của Đại Chủng Viện, ta thấy có cấu trúc như h́nh chiếc thuyền. Hai cột hai bên chống mui thuyền biểu tượng cho hai vị Tông đồ cả Phêrô và Phaolô. Trên đỉnh có h́nh Thánh giá và các tia tỏa ra hai bên diễn tả Ngôi Sao Biển. Ngôi Sao Biển c̣n mang h́nh Thánh giá cho ta biết ư niệm mầu nhiệm Tử nạn suốt hành tŕnh lênh đênh trên biển cả trần gian để hướng đến Vinh Quang Phục Sinh.

 Dưới biểu tượng bông lúa, ta thấy h́nh Đức Mẹ đứng trên bệ trong tư thế vững chăi và b́nh thản với một niềm tin sâu sắc. Mẹ đứng trước mũi thuyền để hướng dẫn con thuyền Giáo Hội, cách riêng con thuyền Đại Chủng Viện, vượt biển đời đầy phong ba băo táp.

 Phông phía sau có màu sẫm với nhiều ô carô có kích thước bằng nhau diễn tả mọi thành phần dân Chúa với sự b́nh đẳng về phẩm giá và nhân vị.

 Phần chính là biểu tượng 6 lá lúa và 1 bông lúa nói lên thời gian và nội dung của chương tŕnh huấn luyện.

 Sáu lá lúa diễn tả 6 năm huấn luyện và tự đào tạo.

 Bông lúa với 33 hạt lúa diễn tả những móc xích và sung măn của sự chuẩn bị được thể hiện theo cuộc đời của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đă hoàn thành sứ vụ của ḿnh vào năm 33 tuổi.

 Ba tia ở ba hạt lúa trên cùng diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi, ba nhân đức Tin - Cậy - Mến, quan niệm tam tài Thiên - Địa - Nhân nơi người linh mục.

 Trên cao là Sao Biển với h́nh Thánh giá nói lên đích nhắm của ứng sinh linh mục, sống mầu nhiệm Tử Nạn - Phục Sinh nơi đời sống mục tử của ḿnh và nh́n Đức Maria như là mẫu gương để noi theo.

 

II. Pḥng khánh tiết.

 

 "LƯỠNG LONG DỮ ĐỒNG CỔ TRIỀU THẬP TỰ GIÁ"

1. Rồng: vật cao quí, biểu trưng cho dân tộc Việt Nam (con Rồng, cháu Tiên).

2. Trống đồng: đặc trưng của văn hoá Việt Nam.

3. Thập Giá: biểu tượng Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, cứu độ nhân loại.

4. Ư nghĩa của biểu tượng: "Lưỡng Long dữ đồng cổ triều Thập Tự Giá" - Dân tộc Việt Nam với bốn ngh́n năm văn hiến qui phục Chúa Kitô và nhận Ngài là chủ của ḿnh.

 

 

GIẢI THÍCH

 1. Rồng:

 a. Từ nguyên: Rồng (Việt), Long (Hán Việt) đều bắt nguồn từ "Krong", "Knông", Klong" của tiếng Đông Nam Á cổ có nghĩa là sông nước. Rồng là con vật tưởng tượng trên cơ sở nguyên mẫu là cá sấu và rắn. Người Đông Nam Á với t́nh cảm hiếu hoà đă biến con cá sấu ác độc thành rồng là con vật cao quí, hiền lành. Con rồng mang đầy đủ hai nét đặc trưng cơ bản của tư duy nông nghiệp là tổng hợp và linh hoạt:

 - Sấu và rắn.

 - Sinh ra từ nước và bay lên trời.

 - Bay mà không có cánh.

 - Miệng vừa phun nước vừa phun lửa.

 

 b. Rồng, Một trong cặp vật tổ của Việt Nam.

 Người Việt Nam vẫn tự hào ḿnh là "Con Rồng, Cháu Tiên". Tiên-Rồng như vật tổ cặp đôi của Việt Nam chính là sản phẩm trí tưởng tượng người nông nghiệp từ chim và cá sấu, hai loài vật đại biểu cho hai phương Đông - Nam của họ.

 Tiên-Rồng là một cặp đôi (chỉ có dân tư duy theo lối triết lư Âm - Dương mới có vật tổ cặp đôi), trong đó Tiên được trừu tượng hoá từ giống chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng!), c̣n Rồng được trừu tượng hoá từ hai loài ḅ sát Rắn và Cá Sấu có rất nhiều ở vùng sông nước Đông Nam Á. (Trần Ngọc Thêm, T́m về băn sắc văn hoá Việt Nam, trang 76)

 c. Ghi chú:

 Rồng chính là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt. Chính từ đây nó đă đi vào văn hoá Trung Hoa (theo D.V. Deopik). Sau đó, theo nhận định của J.V. Chesnov th́ h́nh tượng con Rồng phát xuất từ Đông Nam Á.

 Ở Âu Châu, con Rồng đă bị dương tính hoá: thân h́nh th́ thu ngắn lại và giống con thú, tính cách th́ ác độc và dữ tợn. Rồng theo quan niệm của người Âu Châu là con vật hung hăn chuyên canh giữ các kho báu. Không những thế, theo cách lư luận nhị nguyên, c̣n gán cho Rồng thêm đôi cánh bởi lối tư duy phân tích không thể chấp nhận được việc Rồng không có cánh mà bay.

 2. Trống Đồng

Niên đại:

 Thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên mà trong đó có mốc truyền thuyết là năm 2879! Ứng với giai đoạn đầu thời đại đồ đồng, cũng chính là thời điểm h́nh thành chủng Nam Á (Bách Việt). Thành tựu văn hoá chủ yếu của giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc, sau nghề nông nghiệp lúa nước, chính là nghề luyện kim đồng. Cả trên phương diện nầy, vai tṛ của vùng văn hoá Nam Á đối với khu vực cũng hết sức to lớn: đồ đồng Đông Sơn và ảnh hưởng của nó đă được t́m thấy ở khắp nơi, từ Nam Trung Hoa, Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á. Hà Văn Tấn 1994: 414 - 427)

 b. Địa điểm:

 Tập thể tác giả viện khảo cổ học trong cuốn văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam đă viết: "Kỹ thuật luyện kim, đúc đồng của người Đông Sơn đă đạt đến tŕnh độ điêu luyện đáng kinh ngạc. Trống đồng, thạp đồng là những di vật tiêu biểu nhất cho tŕnh độ kỹ thuật và bàn tay tài hoa của những người thợ đúc Đông Sơn..."

 Trống đồng mà ta thấy thuộc trống đồng Ngọc Lũ (Thanh Hoá) với h́nh mặt trời và 14 tia ở giữa mặt trống.

 c. Mô tả:

 Ngoài ba ṿng chính diễn tả h́nh thái sinh hoạt và những biểu tượng diễn tả đặc tính của người dân Đông Nam Á. Ta c̣n thấy có hai ṿng đóng khung trang trí mô tả triết lư sống của họ là Âm-Dương. Ở trung tâm ta thấy lặp lại triết lư sâu xa nầy.

 10. Ṿng hoa văn ngoài cùng:

 Chúng ta thấy có ba ṿng nhỏ kế tiếp nhau được nối kết bằng những h́nh tṛn rỗng có Chấm đặc nằm bên trong. Tiến sĩ Dương Thiệu Tống gọi đây là "Chuỗi lưỡng hợp rỗng - đặc nối kết nhau". Ông viết: "nguyên lư rỗng - đặc biến hoá là một nguyên lư triết học phát xuất từ dân Lạc Việt thời Thượng cổ, mà theo Khổng Tử (550-478) trong Kinh Thư (Thiên Nghiêu Điển), vua Đường Nghiêu (Thiên niên III tcn) cho là lời nói dối hay nói ngoa (Nam ngoa) của người phương Nam nên sai Hy Thúc sang đất Giao Chỉ để kiểm chứng lại (Thân mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao, b́nh trật Nam ngoa...), nhưng về sau đó chính nguyên lư biến hoá nầy lại trở thành nền tảng cho Chu Dịch, hay kinh Dịch của Trung Hoa" (Trần Ngọc Thêm - T́m về bản sắc văn hoá Việt Nam, trang 129)

 20. Vành số 1 bên ngoài cùng.

 Vành số 1 có khắc 18 con chim đang bay và 18 con chim đứng. Chim là vật biểu cho phương Nam. Chim sống trên trời, kiếm ăn nơi sông nước. Tính Chất lưỡng cư và hiền lành điển h́nh cho tính cách linh hoạt trong t́nh cảm của văn hoá nông nghiệp phương Nam. Lạc Việt tự xưng là Hồng Bàng (Một loại chim lớn - Bàng: lớn; Hồng: do chữ Giang [ ] - sông nước và Điểu { ] - chim).

 30. Vành số hai ở giữa.

 Vành số hai có khắc luân phiên và hài hoà gữa chim và nai (8 chim sếu - 10 nai - 6 chim sếu - 10 nai). Đây nói lên một tổng hợp hài hoà giữa vật sống dưới đất và vật sống trong không trung. Người dân Việt ư thức ḿnh sống trên mặt đất mà vẫn mang tâm hồn hướng thượng. "Đầu đội trời chân đạp đất" là châm ngôn sống của dân Việt. Chính v́ thế trong mọi cảnh tang thương, đau khổ do thiên tai, chiến tranh người dân Việt vẫn mang nơi tâm khảm ḿnh một niềm lạc quan và một thái độ bao dung tha thứ.

 40. Vành số 3 ở trong.

 Trên vành 3 từ ngoài tính vào ta thấy có khắc một số h́nh ảnh: 4 người đánh trống - 6 chim bay - thuyền - 2 người giă gạo. Chim đậu trên đ́nh - 4 người đánh trống - 6 chim bay - thuyền, cóc...

 Chủ nghĩa phồn thực được thể hiện nơi vành nầy. Ngay từ đầu duy tŕ và phát triển sự sống đă là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Ở loại h́nh văn hoá nông nghiệp, hai h́nh thức sản xuất lúa gạo để duy tŕ cuộc sống và sinh sản con người để tiếp tục ḍng giống nầy, có bản chất giống nhau. Người dân nông nghiệp đă t́m thấy hai loại h́nh nầy trong thiên nhiên và sùng bái nó như thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng Phồn Thực (phồn = nhiều; thực = nẩy nở). Ở Việt Nam, tín ngưỡng Phồn Thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử và có tới hai dạng biểu hiện: Thờ cơ quan sinh dục nam, nữ và thờ bản thân: hành vi giao phối) (Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm - T́m về bản sắc dân tộc Việt Nam,t 263)

H́nh nam nữ gĩa gạo: Từ thời xa xưa, chày và cối là bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệp Đông Nam Á, đă là những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ, c̣n việc giă gạo là tượng trưng cho hành động giao phối. (Trần Ngọc Thêm, sđd trang 268).

H́nh người đánh trống: Cách đánh trống đồng theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống đồng và c̣n được bảo lưu ở người Mường hiện nay là mô phỏng động tác giả gạo - động tác giao phối.

Thuyền nối đuôi: Những chiếc thuyền được khắc ở đây, chiếc sau nối đuôi chiếc trước, khiến cho hai con cá sấu - rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền chạm nhau trong tư thế giao hoan.

(Ghi chú: con thuyền là vật thiết thân của người dân Việt. H́nh ảnh con thuyền và sông nước ăn sâu vào tâm khảm đến mức mọi sinh hoạt của con người đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực, làm đối tượng so sánh).

Chim đậu trên đ́nh: biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đ́nh-bến nước- cây đa. Đ́nh là trung tâm hành Chánh, văn hoá, tôn giáo và t́nh cảm. Ở Tây Nguyên, Nhà Rông là h́nh thức của đ́nh. Như thế, đ́nh ở Việt Nam có từ lâu và không phải là một sự mô phỏng hoặc lệ thuộc Trung Hoa. Đ́nh chín là hậu thân của những ngôi nhà làng thời Hùng Vương với sân cao và mái cong h́nh thuyền. Chim đậu trên đ́nh ư diễn tả tâm hồn dân Việt luôn mang tính cộng đồng trong xă hội.

 50. Ṿng hoa văn "chuỗi lưỡng hợp rỗng đặc" đơn:

 Đây là một giới thiệu cuối cùng của tính triết lư Âm - Dương để đi vào ư nghĩa chính trên trung tâm mặt trống đồng: Âm - Dương.

 60. Trung tâm của mặt trống đồng:

 Trên tâm mặt trống, chúng ta thấy có khắc h́nh mặt trời với những tia sáng biểu tượng cho sinh thực khí nam. Giữa các tia sáng là những h́nh lá với khe ở giữa biểu tượng cho sinh thực khí nữ. Đây là hai yếu tố trong triết lư Âm - Dương.

 Âm - Dương là triết lư sống cơ bản của người dân Bách Việt. Chúng ta biết rằng mối quan tâm số một của con người nông nghiệp là sự sinh sôi năy nở của hoa màu và con người, họ luôn mong sao cho mùa màng bội thu và gia đ́nh đông đúc. Sự sinh sản của con người do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam. C̣n sự sinh sản của hoa màu th́ do đất và trời cũng hai yếu tố: đất sinh và trời dưỡng.

 Đất được đồng nhất với mẹ, c̣n trời được đồng nhất với cha. Việc hợp nhất của hai cặp "mẹ cha" và "đất trời" chính là sự khái quát hoá đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lư Âm - Dương.

 (Ghi chú: Âm Dương đối với chúng ta hiện nay là những khái niệm trừu tượng, mơ hồ, nhưng vào thời rất xa xưa, chúng đă từng là những từ có ư nghĩa rất cụ thể. Ư nghĩa ban đầu của chúng không phải là cái ǵ khác mà chính là "mẹ cha - đất trời" vốn được phiên âm theo lối Hán - Việt các từ Yin Yang của tiếng Hoa. Song chính tiếng Hoa lại đă vay mượn từ Yang (dương), nghĩa là "trời - thần" và từ Yin (âm) nghĩa là "mẹ" của các ngôn ngữ phương Nam. Điều nầy rất rơ nếu so sánh Yang (Hoa) với Giàng trong tiếng Mường và Yang trong các ngôn ngữ Tây Nguyên: ví dụ Yang Sri "Thần lúa" (nhiều dân tộc), Yang Đak "Thần nước" (nhiều dân tộc), Yang Lon "Thần đất" (Gia rai)...

 Tương tự, có thể so sánh ying với các từ chỉ "mẹ" trong các ngôn ngữ Đông Nam Á: Yana (tiếng Chàm cổ, ở Huế có đền thờ Thiên Iana = mẹ trời), Ina (tiếng Gia rai, tiếng Chàm hiện đại), Inang (tiếng Indonesia), Nạ (tiếng Việt cổ, so sánh: nạ ḍng - người đàn bà đă có con; con th́ nạ, cá th́ nước; con so nằm nhà nạ, con dạ nằm nhà chồng) (Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm - T́m về bản sắc dân tộc Việt Nam, trang 112).

 3. Thánh giá

a. Xuất xứ Thập giá: có hai loại Thập giá.

 10 Thập giá đơn: là một cây cột, đầu thường chuốt nhọn, thường gọi là "trụ hành h́nh". Một đại thần ngự... Ai cập bị khép án nầy (St 40, 9). Tội nhân bị treo tay hay bị đóng đinh trên cột.

 20. Thập giá kép: "Crux commisa" gồm một thanh dài gọi là "Stipes" và một thanh ngang gọi là "Patibulum" do tử tội đem đến nơi hành quyết. Đôi khi ở lưng chừng thập tự có Sedilis excessus, một loại bệ tựa đỡ thân thể tử tội để tránh tử tội bị ngạt thở mau quá do sự tŕ kéo của thân thể. Không chắc trên thập giá của Đức Kitô có bộ tựa nầy. Trong Phúc Âm không thấy có "Suppedaneum" (bệ tựa chân) như các nghệ sĩ Kitô giáo thường tŕnh bày.

 b. Ư nghĩa thập giá:

 10. Đức Giêsu đón nhận cái chết mà cũng là h́nh phạt nhục nhă (Gl 3, 13; Dt 12, 2)

 20. Thập giá, một điều mà cả người Dothái lẫn dân ngoại không chấp nhận, đă trở nên phương thế đem ơn cứu đôho tất cả những ai tin vào Đức Kitô (1Cr 1, 20).

 Thập giá hợp nhất Dothái và dân ngoại thành một với điều kiện phải tin vào Đức Kitô (Ep 2, 14-18).

 30. Đức Giêsu đ̣i hỏi người Kitô hữu phải vác thập giá của ḿnh mà đi theo Ngài th́ mới là môn đệ thật sự của Ngài (Mt 16, 24). Thực vậy, người nào lănh phép Rửa, tức là đă được đóng đinh với Ngài (Rm 6, 6; Gl 2, 19), (J. Dheilly - Từ điển Kinh Thánh IV - Desclée, 1964).

  

CÁC BỘ TRANH SƠN MÀI

 1. Bộ "Cầm - Kỳ - Thi - Họa"

 Bộ "Cầm - Kỳ - Thi - Họa" được treo ở nách mặt tiền. Cầm-Đàn, Kỳ-Cờ, Thi -Thơ, Họa-Vẽ, là bốn môn nghệ thuật điển h́nh của Việt Nam thời Trung cổ.

 "Cầm - Kỳ - Thi - Họa": Trong "Cung oán ngâm khúc", đoạn miêu tả tài sắc của người cung phi, Nguyễn Gia Thiều có viết:

 "Câu cẩm tú đàn anh họ Lư (Thi)

 Nét đan thanh bậc chị Chàng vương (Họa)

 Cờ tiên, rượu thánh ai đương (Kỳ, Tửu)

 Lưu linh, Đế thích là phường tri âm

 Cầm điếm nguyệt phỏng tầm tư mă (Đàn)

 Địch lầu thu dường gă Tiêu Lang"... (Sáo)

 Theo Phan Kế Bính, trong "Việt Nam phong tục", th́ "Cầm - Kỳ - Thi - Tửu" là bốn thú tiêu khiển của giới thượng lưu. C̣n theo Nguyễn Gia Thiều th́ "Cầm - Kỳ - Thi - Họa" là bốn tài nghệ của các bậc tài hoa. Trong ngôn ngữ b́nh dân, ta thường nghe nói các từ đôi: đàn địch, thi tửu...cho nên trên bức tranh "Cầm" nghệ nhân đă vẽ thêm người thổi sáo; c̣n trên bức tranh "Thi" tác giả có vẽ thêm bầu rượu và hai chiếc cốc (chung, bôi).

 Phần nền tảng của bộ "Cầm - Kỳ - Thi - Họa" là h́nh ảnh Đại Chủng Viện Sao Biển thuộc ba Giáo phận. Trong đời mục vụ, giáo dân thường chỉ cảm nhận những tài nghệ bên ngoài của người Linh mục, nhưng bản thân các Chủng sinh phải được trang bị bằng vốn kiến thức phong phú và một đời tâm linh chiều sâu, để làm nền cho mọi hoạt động của ḿnh.

 2. Bức "Bồng lai tiên cảnh"

 Bức "Bồng lai tiên cảnh" được treo ở vách bên phải. Đây là cảnh thần tiên trong quan niệm của người Việt Nam.

 "Bồng lai tiên cảnh": gồm bốn tấm gỗ bằng nhau ghép lại nhưng chỉ diễn tả một nội dung. Vậy xét theo h́nh thức ta có thể gọi là "Bộ" (bộ ván, bộ ly, bộ bài...), nhưng xét theo nội dung th́ ta phải gọi là "Bức" (bức tranh, bức mành, bức b́nh phong...).

 "Bồng lai tiên cảnh" hay "Thiên thai thơ mộng" là biểu tượng của "tâm hồn thẩm mỹ tế nhị" và khát vọng hạnh phúc của người Việt Nam. Theo người xưa, Tiên và Hạc là hai h́nh ảnh, hai khái niệm đi đôi với nhau, thay thế cho nhau (tranh Tiên cưỡi hạc, Đằng hạc qui thiên), ở đâu có hạc ở đó có tiên:

 "Trời cao xanh ngắt. Ô ḱa,

 Hai con hạc trắng bay Bồng Lai

 Theo chim tiếng sáo lên khơi

 Lại theo ḍng suối bên người Tiên Nga"

 (Tiếng sáoThiên thai - Thế Lữ.)

 Nền bức tranh chứa nhiều cặp đối ứng của triết lư Âm - Dương sâu sắc: 8 con hạc (4 cặp trống mái), con đậu con bay (động - tĩnh), mặt trời hoàng hôn (sáng - tối), ḍng thác đổ (sơn - thuỷ), mây giăng trên đỉnh núi (trời đất giao hoà)...

 Khi bóng xế, trời chiều người ta thuờng lặng nh́n về hướng Tây và mơ tưởng một cuộc sống hạnh phúc ở bên kia thế giới. Thiên Thai hay Bồng Lai đều là những h́nh bóng của Thiên Đàng.

 3. Bức "Mă đáo thành công"

 Bức "Mă đáo thành công"được treo ở vách bên trái (Mă-Ngựa ; đáo-đến). Bức tranh này diễn tả khát vọng phồn vinh thịnh vượng của thời phong kiến.

 "Mă Đáo Thành Công": Đàn ngựa đến được bến bờ khát vọng. Đây là một cảnh thái b́nh thịnh vượng, nó thuộc mô h́nh văn hoá "Phồn thực" (Phồn: nhiều; Thực: sinh sôi nảy nở). Các dấu hiệu phồn thực trên bức tranh là: đàn ngựa rất đông và sung sức, những con chạy đầu đang ngữa cổ hí vang sung sướng, dưới Chân chúng đă xuất hiện ḍng nước mát với đồng cỏ xanh, sau lưng chúng là cánh rừng cây lá xum xuê, ở trung tâm là mặt trời b́nh minh đang bừng lên sức sống của ngày mới...

 Ngựa là biểu tượng của quyền quư, uy dũng và thế lực của thời phong kiến. Trong ngôn từ Việt Nam, ngựa có các đặc tính: nhanh (bóng câu thấp thoáng, vó ngựa qua thềm), mạnh (mă lực: đơn vị đo công xuất động cơ), tính hào kiệt (chí làm trai dặm ngh́n da ngựa, gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao - Chinh Phụ Ngâm.)

 Đàn ngựa không yên cương, không người Chăn, chúng đang tự do tung hoành. Tuy nhien, chúng không lộn xộn, không tản mác, chúng Chạy theo một trậtự và cùng hướng về một bến bờ tươi sáng, đầy sức sống: Đó là phong cách của người Chủng sinh.

 4. Bát bửu

 a. Mô ta:

 Gồm tám vật quí, dùng làm trang trí nơi thờ cúng, được chọn tùy theo tín ngưỡng, tập tục, hoặc ư riêng của người sáng tác nên thường không thống nhất. Có thể chia thành hai bộ:

 10. Bộ một gồm có: Quạt, thanh gươm, bầu rượu, giỏ hoa, ống sáo, lộng, ống bút, cuốn thư hoặc cành trúc, đàn t́ bà, hoa sen.

 20. Bộ hai gồm có: Đàn sáo, lẵng hoa, thư kiếm, bầu rượu, túi thư, thư bút, khánh, quạt.

 Tương truyền mỗi vật có một ông Tiên nắm giữ:

 - Cây quạt Hớn Chung Ly.

 - Thanh gươm Lữ Đồng Tân.

 - Bầu rượu Lư Thiết Quả.

 - Cặp sanh Tào Quốc Cựu.

 - Giỏ hoa Lam Thái Hoà.

 - Ống tiêu Hoàng Tương Tữ.

 - Cây gậy Trương Quả Lăo.

 - Bông sen Hà Tiên Cô.

 b. Ư nghĩa:

 Bát Bữu tượng trưng cho: sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có, tuổi trẻ, sự tốt lành về t́nh cảm, hạnh phúc, sự may mắn, sụ chiến thắng, sự lựa chọn.

 c. Trang trí

 Ở trần pḥng khánh tiết của Đại Chủng Viện Sao Biển chỉ gồm có bốn vật mà thôi, đó là: túi thư, thư bút, cặp sanh và quạt.

III. Pḥng ăn :

 Bộ "Tứ nghệ".

 "Tứ nghệ" là bốn nghề làm ăn phổ biến của người Việt Nam thuộc vùng nông nghiệp sông nước: Ngư (Cá, nghề đánh bắt cá), Tiều (Củi, nghề đốn củi), Canh (Cày ruộng, nghề trồng lúa), Mục (Nuôi súc vật, nghề Chăn nuôi).

 Ngư - là loài vật tiêu biểu cho vùng sông nước. Việt Nam có bờ biển dài, ao hồ sông lạch nhiều nên dễ phát triển ngư nghiệp. H́nh ảnh con cá đi vào văn hoá Việt Nam qua huyền thoại "Cá hoá rồng", "Đền thờ cá ông" (cá voi), tranh "Lư ngư vọng nguyệt" "Cá chép đưa ông Táo về trời"...

 Tiều: củi là nguồn nhiên liệu dồi dào và duy nhất đối với người sơ khai. Nước ta có diện tích rừng rộng lớn, từ Bắc vào Nam nên nghề đốn củi, đốt than rất thuận tiện và phổ biến. Ngành khảo cổ t́m thấy những chiếc ŕu đá rât xa xưa và da dạng của dân Việt. Họ cho rằng chữ "Việt" ngày xưa có h́nh dạng giống như một chiếc ŕu có cán. Người Việt, từ những lăo tiều phu cho đến những thanh niên lực lưỡng như Thạch Sanh, và ngay cả những cao nhân bất đắc chí đều có thể t́m kế sinh nhai nơi núi rừng: "Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than".

 Canh: - cày ruộng, trồng lúa là nghề điển h́nh của các vùng nông nghiệp. Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á ẩm thấp, là quê hương của cây "Lúa nước". Hầu hết các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều sùng bái cây lúa, xem lúa là một biểu tượng thiêng liêng: Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa... Người dân Việt tường tận từng đường tơ kẻ tóc của cây lúa. Họ có một vốn từ vựng rất phong phú để nói về cây lúa: hạt, giống, mầm, mạ, lúa, đ̣ng (sắp trổ bông), rạ, rơm, tranh (lợp nhà), thóc, gạo, nếp, trấu, tấm, cám, cơm, xôi, cháo, lúa chiêm, lúa mùa... Việt Nam có rất nhiều lễ hội và nhiều loaị bánh truyền thống liên quan đến nghề trồng lúa.

 Mục: - mục súc là nghề Chăn nuôi thú vật. Người Việt Nam thường Chăn nuôi sáu loài vật trong nhà (lục súc): ḅ, ngựa, dê, gà, chó, lợn. Ḅ là sức kéo chủ yếu của người vùng Tây Bắc du mục, c̣n Trâu là sức kéo chủ yếu của vùng Đông Nam sông nước. Trong tiếng Hán, chữ "Ngưu" chỉ con "Ḅ", khi du nhập vào Việt Nam th́ thường được hiểu là "Trâu". Thật ra, con trâu của Việt Nam phải được gọi là "Thuỷ Ngưu" (con ḅ thích lội nước). Trâu rất gần gũi với nghề trồng lúa, đi sâu vào tâm tư t́nh cảm của mỗi người dân Việt:

"Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta!"...

"Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa"...

 Bộ Tứ nghệ nhắc nhở các Chủng sinh ba đều:

Của ăn mà anh em đang hưởng dùng hôm nay là công lao khó nhọc của bao người đă hy sinh đóng góp.

Sứ mạng của anh em sau này là: kẻ Chài lưới người ta, trở nên ánh sáng và hơi ấm cho đời, người ra đi gieo hạt giống Tin mừng và cũng là thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo, anh em sẽ là những mục tử nhân lành như ḷng Chúa mong ước.

Trong đời mục vụ, anh em phải ưu tiên quan tâm đến những người lao động nghèo khổ.

 

IV. Pḥng khách

 1. Bộ "Tứ Linh"

 Bộ "Tứ Linh" là h́nh bốn con vật Long (rồng), Ly (lân), Qui (rùa), Phụng (phượng) linh thiêng trong các nước Đông Nam Á.

 Long - Rồng (xem nguồn gốc và đặc tính ở phần "Lưỡng Long Chầu Thánh Thể"). Theo quan niệm Việt Nam, rồng là con vật linh thiêng, hiền lành, biểu trưng cho uy lực và nam tính. Các vua chúa Việt Nam thường dùng chữ Long để đặt tên cho tât cả những ǵ thuộc về ḿnh: long nhan, long thể, long sàng, long bào, long măo...Người Việt Nam tự hào ḿnh là con Rồng Cháu Tiên nên có rất nhiều địa danh mang tên rồng: Thăng Long, Cửu Long, vịnh Hạ Long, Hàm Rồng, Bến nhà Rồng, Long Đỗ, Bạch Long Vĩ...

 Lân hoặc Ly (?): cả hai đều là những con vật tưởng tượng.

Lân (Kỳ Lân): là một con vật tưởng tượng: đầu sư tử, ḿnh nai,đuôi trâu, ăn cỏ, rất hiền lành, biểu trưng cho ước vọng thái b́nh.

Ly (Long Mă): cũng là một con vật tưởng tượng: ḿnh ngựa, đầu rồng. Ngựa là biểu tượng của phương Tây - Bắc gốc du mục, trọng động; Rồng là biểu tượng của phương Đông - Nam gốc nông nghiệp sông nước. Vậy Long Mă là con vật được lai ghép bởi hai biểu tượng văn hoá nói trên.

 Theo huyền sử Trung Quốc, khi vua Phục Hy đi dạo ở sông Hoàng Hà, gặp con Long Mă nổi lên, trên lưng có bức đồ, Phục Hy theo đó làm ra Hà Đồ.

 Một huyền thoại khác: Vua Phục Hy đi chơi sông nước ở Hoàng Hà, có con Long Mă hiện lên, trên lưng có khoáy thành từng đám. Vua coi những khoáy đó mà hiểu được lẽ biến hoá của vũ trụ, Mới đem lẽ đó mà vạch ra thành nét âm - dương, nguồn gốc của Kinh Dịch phát xuất từ đó.

 Qui (Rùa): cũng là một linh thú của vùng sông nước. Nó hiền lành, chậm chạp, sông lâu là biểu tượng của sự ổn định, bền vững, âm tính, trường thọ. Có hai truyền thuyết về con Rùa gần giống như con Long Mă ở trên:

 Vua Vũ trị thuỷ ở sông Lạc, thấy có con rùa nổi lên, trên lưng có chữ viết (thư), vua Vũ theo đó mà làm ra Lạc Thư.

 Sách "Ngự Phê Thông Giám Tập Lăm" có viết: "Năm thứ năm đời vua Nghiêu (2353 BC) có người Việt - Thường từ phương Nam đến chầu, qua hai lần thông dịch, đă dâng một con rùa lớn sống ngàn năm, vuông non ba thước, trên mai có khắc chữ Khoa Đẩu (h́nh giống con ṇng nọc) ghi chuyện từ khi khai mở trời đất, vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Qui Dịch.

 Trong lịch sử Việt Nam, cũng có hai truyền thuyết về thần Kim Quy liên quan đến hai vị vua: An Dương Vương (thành Cổ Loa với chiếc Lẫy nỏ thần) và Lê Lợi (thanh gươm và Hồ Hoàn Kiếm).

 V́ có những truyền thuyết như vậy nên nghệ thuật hội họa ngày nay thường vẽ thêm một vật ǵ đó trên lưng con Lân (con Ly) và trên lưng con Rùa.

 + Phụng (Phượng hoàng): là loài chim quí hiếm biểu tượng của nữ tính và sắc đẹp. Quan niệm Trung Hoa xem "Loan - Phượng" là biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi (Loan là con đực, Phượng là con mái) :

 "Ai làm chia rẽ Phượng - Loan

 Dang tay nỡ bẻ phím đàn làm đôi"

 Người Việt Nam cho rằng "Rồng - Phượng" là biểu tượng của hạnh phúc lưá đôi: Tương truyền công chúa Lộng Ngọc, con vua Tần Mục Công đang học cùng với chồng là Tiên Sử. Nàng thổi sáo khúc "Phượng Cầu Hoàng" th́ chim phượng sà xuống. Nàng cưỡi phượng, Chàng cưỡi rồng bay lên trời. Về sau Tư Mă Tương Như cũng đàn bản nhạc nầy để quyến rũ Trác Văn Quân.

 2. Bô#34;Tứ Hữu"

 Bô#34;Tứ Hữu" là bốn loài cây biểu trưng cho bốn nhân cách được giới kẻ sĩ ưa chuộng: Mai (Tính hồn nhiên), Lan (Sự thanh khiết), Cúc (Sự thanh nhàn, ẩn dật), Trúc (Tính cách cứng rắn, quân tử).

 Chữ "Hữu" ở đây có nghĩa là bè bạn, bằng hữu. Người Việt Nam sống gần gũi với thiên nhiên nên nh́n thấy cỏ cây cũng hữu t́nh. Các bậc cao nhân, hiền sĩ khi đă chán ngán thế sự nhân t́nh th́ thường t́m về những nơi thôn dă để làm bạn với hoa lá cỏ cây, đă gán cho chúng những phẩm chất cao quí của ḿnh.

 Để phân biệt, chúng ta cũng nên biết hai bộ tứ khác cũng vẽ cảnh thiên nhiên, đó là "Tứ thời" và "Tứ quí".

 Tứ thời: (Tứ b́nh) là bốn bức b́nh phong thiên nhiên:

Mai - Điểu: Hoa mai và con chim - Mùa Xuân.

Liên - Áp : Hoa sen và con vịt - Mùa Hạ.

Cúc - Điệp : Hoa cúc và con bướm - Mùa Thu.

Trúc-Hạc hay Tùng - Lộc: cây trúc và con hạc hay cây tùng và con hươu Mùa Đông.

 Tứ Quí: Bốn loài cây tiêu biểu cho bốn mùa: Mai (Xuân), Thông (Hạ), Cúc (Thu), Trúc (Đông).

 Cả bộ tranh trên đều có Mai - Cúc - Trúc, c̣n các loài cây cỏ, chim thú khác th́ tùy địa phương mà thêm vào cho hợp.

V. Nhà Nguyện :

 Bức phù điêu giữa Cung Thánh

 1. Mô tả:

Sự thương khó Chúa Giêsu (Thập giá và năm vết thương nơi ḿnh Chúa).

Chúa Giêsu Phục Sinh khải hoàn (Cầm cờ chiến thắng).

Chúa Giêsu lên trời (trên đám mây, theo Cv 1,9: "Nói xong, Người lên trời ngay trước mắt các ông, và có đám mây rước Người lên, khuất mắt các ông.").

Chúa Giêsu đến làm thẩm phán ngày cánh chung (Đứng trên đám mây, theo Mc 14, 62: "Phải,chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và ngự giá mây trời mà đến",và theo thị kiến Đaniel : "... Với mây trời, như thể một Con Người đi đến ... Ngài được ban tặng quyền bính, danh dự, vương triều. Tất cả các dân, các nước, các tiếng nói phải làm tôi Người. Quyền bính của Người sẽ không bị huỷ." (Đn 7, 13-14).

 2. Ư nghiă

 Bức h́nh có ư diễn tả các mầu nhiệm Khổ nạn, Phục sinh, Lên trời và Quang lâm có mối liên hệ mật thiết với nhau. Các mầu nhiệm đó thuộc mầu nhiệm Chúa Kitô và nằm trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.

 Qua cuộc Khổ nạn mới đến Phục sinh. Qua cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu th́ Ngài mới được tôn vinh, được ngự bên hữu Chúa Cha và mọi quyền hành trên trời dưới đất đều được ban cho Ngài, để Ngài làm thẩm phán tối cao trong ngày chung thẩm.

 Hai ngón tay (giữa và trỏ) của bàn tay phải Chúa Giêsu tạo h́nh chữ V. H́nh ảnh nầy có thể có những ư nghĩa sau đây:

Chữ V là chữ đầu của từ Victoria - chiến thắng, theo tập tục Tây Phương.

Chỉ hai điều răn quan trọng: Mến Chúa và yêu người.

Chỉ hai bản tính của Chúa Giêsu: Thiên tính và nhân tính.



 

C. PHẦN T̀M HIỂU SƠ LƯỢC NGHỆ THUẬT SƠN MÀI

 "Nghệ thuật sơn mài" ở nước ta xuất hiện rất sớm, từ hằng trăm năm trước Công nguyên. C̣n "Nghệ thuật khảm xà cừ" ra đời từ thời nhà Lư (1010-1225)

 "Tranh sơn mài", cả tên gọi lẫn h́nh thức như ngày nay, là do sinh viên trường Mỹ Thuật Đông Dương sáng chế từ năm 1928. Nó là sản phẩm tổng hợp của hai loại nghệ thuật trên. Phần nền của tranh sơn mài thường vẽ cảnh thiên nhiên, màu sắc hài hoà, trầm mặc. Phần nổi của nó được khảm bằng vỏ trai, vỏ ốc, màu sắc rực rỡ sinh động. Đặc điểm ưu việt của tranh sơn mài là vừa lộng lẫy kêu sa lại vừa thâm tràm sâu lắng, nó phản ảnh được cái thần (hồn) của văn hoá Việt Nam .

 Với triết lư Âm Dương - Tứ tượng - Bát quái, nghệ thuật h́nh khối (Hội họa và điêu khắc) của Việt Nam thường diễn tả các thể loại theo từng cặp (đôi) mà các "Bộ tứ", "Bộ bát".

 Với triết lư Âm Dương - Tam tài - Ngũ hành, với hai đặc tính: tổng hợp (trong âm có dương, trong dương có âm) và biện chứng linh hoạt (âm cực sinh dương , dương cực sinh âm), nghệ thuật h́nh khối Việt Nam thường có đuờng nét đơn giản, mờ nhạt, lấp lửng, giàu tính biểu tượng gợi cảm.

 Từ khi giao lưu với văn hoá Phương Tây (cuối thế kỷ XIX) nghệ thuật h́nh khối Việt Nam mới có màu sắc sặc sỡ, đường nét tinh tế sắc sảo như ngày nay.
 

 

[Home] [Up] [Thư viện] [Sinh hoạt Gp] [Các Giáo phận...] [Nội dung trang web]


cập nhật ngày 17 tháng 01 năm 2006

© 2005 Gia Nhân

Hosted by Web Hosting Công Giáo miễn phí