.GIÁO PHẬN NHA TRANG |
| Linh Mục Đặng Đức Tuấn |
| |
LINH MỤC
ÐẶNG ÐỨC TUẤN
(1806-1874)
HUỲNH NHUẬN
Vào cuối thế kỷ 19,
nước ta lâm vào cảnh thiên tai địch họa: đê Hồng hà bị vỡ, giặc Châu
chấu tàn phá mùa màng, quân Cờ Ðen, Cờ Vàng, Cờ Trắng từ Trung quốc tràn
qua cướp bóc tài sản và giết chóc nhân dân miền Bắc, nhứt là quân Pháp
mưu toan xâm lược nước ta dưới chiêu bài mở mang và truyền đạo. Triều
đình thì lại bị thao túng bởi bọn hủ nho lạc hậu và cố chấp. Tại Bình
định cũng như khắp nơi trong nước, có những anh hùng liệt sĩ xả thân cứu
nước bằng cách nầy cách nọ. Riêng Ðặng Ðức Tuấn là một vị đạo trưởng của
một "tà đạo", từ trong ngục tù, đã đưa ra những kế hoạch bình Tây, cứu
quốc:
- Làm chấn động triều
đình
- Thực hiện cuộc đối
thoại kỳ thú giữa một tử tù và một đấng Quân vương.
- Ðã giải thoát hàng
vạn giáo hữu bị giam cầm.
Ðặng Ðức Tuấn làm được
ba điều trên là vì ông đã thành công trong việc đem ba cái Ðức của triết
thuyết Á Ðông: Nhân, Trí, Dũng ứng dụng vào nguyên lý Thần học và triết
lý Công giáo mà ông đã thu thập từ các giáo sư Âu châu và với các sinh
viên Á châu: Tàu, Nhựt, Cao ly, Thái lan v.v... ở đại chủng viện Penang,
Mã lai, nơi ông theo học. Là một Nguyễn Trường Tộ thứ hai, Ðặng Ðức Tuấn
đã đưa ra những thao lược bình Tây, cứu nước bằng những văn thơ tuyệt
diệu. Ông đã minh đạo Công giáo qua những nguyên lý Khổng học vào thời
kỳ mà Việt nam coi Hán văn như quốc học. Vậy Ðặng Ðức Tuấn là ai, sự
nghiệp thể nào?
A.- THÂN THẾ
CỦA LINH MỤC ÐẶNG ÐỨC TUẤN
GIA PHẢ RÚT NGẮN CỦA
ÐẶNG ÐỨC TUẤN
Ðặng Ðức
Siêu (1750-1810)
Lễ Bộ
Thượng thơ
+ Phu nhơn
Nguyễn thị Ngữ
ll
Ðặng Ðức
Chiêm
Hải dương
Tổng đốc
ll
Ðặng Ðức
Lành
ll
Ðặng Ðức
Hoá
+ Ðặng Ðức
Tuấn (1806-1874) Linh mục
+ Ðặng Ðức
Bình
Sách Ðại Nam Nhất Thống
Chí ghi về Ðặng Ðức Siêu như sau:
Ðặng Ðức Siêu, người
huyện Bồng sơn, thuở nhỏ đậu Hương tiến (cử nhân), được bổ vào Hàn lâm.
Lúc đầu thời Trung hưng, ông lẻn vào Gia định, dâng "Bình Tây Sơn phương
lược", được lãnh chức Trung dinh Tham mưu, ra vào trong chốn màn trướng,
thân cận với chúa Nguyễn. Sau ngày đại định, nghi lễ chiếu biểu của nhà
vua phần lớn đều do ông soạn thảo. Ông làm quan đến Thượng thơ bộ Lễ.
Sau ông được sung chức phụ đạo cho Hoàng tử, đem đạo thánh dạy dỗ, làm
được nhiều điều bổ ích. Lúc chết ông được nhà vua tặng chức Thiếu sư
Hiệp biện Ðại học sĩ. Năm Tự Ðức thứ năm (1852), ông được thờ vào miếu
Trung Hưng Công thần. Ðức hạnh, tiết tháo của ông đáng là nhân vật đệ
nhất của nhà Nguyễn.
Sách Việt nam Danh nhân
Từ điển của Nguyễn Huyền Anh ghi về phu nhân như sau:
Ðặng Ðức Siêu có bà vợ
chính thất là Nguyễn thị Ngữ, người huyện Hương trà, tỉnh Thừa thiên, là
một bậc tiết phụ hiếm có. Khi chồng theo chúa Nguyễn vào Gia định, bà ở
nhà thủ tiết nuôi con. Tư đồ Tây Sơn là Vũ Văn Dũng muốn cưới bà làm vợ,
nhưng bà nhứt định khước từ. Sau chồng về, bị bệnh chết, bà lo tống táng
tận lễ rồi ở vậy cho đến già. Ðời Minh Mạng sắc cho biển Tiết Phụ với
bốn chữ "Ðông Quản Phương Tiêu".
Về sự nghiệp văn
chương, Ðặng Ðức Siêu là tác giả Văn tế Thượng sư Bá Ða Lộc, Văn tế Võ
Tánh, Ngô Tùng Châu, bài Hồi loan Khải ca nói về chiến công thống nhất
đất nước của vua Gia Long. Ngoài ra ông còn soạn một quyển sử gọi là
Thiên Nam Ðế Hệ, chép sự việc từ Triệu tổ Nguyễn Kim đến Ðịnh vương
Nguyễn Phúc Thuần.
Ðặng Ðức Siêu có người
con là Ðặng Ðức Chiêm làm Tổng đốc tỉnh Hải dương. Con của Ðặng Ðức
Chiêm là Ðặng Ðức Lành.
BUỔI THIẾU THỜI VÀ
THANH NIÊN CỦA ÐẶNG ÐỨC TUẤN
Chúng ta không có sử
liệu tương quan huyết thống giữa Ðặng Ðức Tuấn và Ðặng Ðức Siêu, chỉ có
tương truyền của người địa phương rằng Ðặng Ðức Siêu là ông cố của Ðặng
Ðức Tuấn.
Năm Bính Dần (1806),
thời Gia Long, Ðặng Ðức Lành, một ẩn sĩ làm câu họ Gia hựu, thôn Qui
thuận, huyện Bồng sơn, Bình định, sinh con trai thứ hai đặt tên là Ðặng
Ðức Tuấn. Tuấn có một người anh là Ðặng Ðức Hóa và một người em là Ðặng
Ðức Bình. Cả ba anh em đều giữ đạo Công giáo và theo đuổi nho học. Ðặng
Ðức Tuấn xuất sắc hơn anh em trong gia đình và các bạn đồng trường. Ông
có tư chất thông minh, học đâu hiểu đó, nhờ thế trong các kỳ khảo hạch
để tuyển thí sinh, Ðặng Ðức Tuấn đã được các danh sĩ địa phương công
nhận là "xác hữu thực học". Khoa thi Hương năm Ất Dậu (1825) tại trường
thi Bình định, ngay từ bài kinh nghĩa ở trường nhứt, Ðặng Ðức Tuấn đã
đứng nhứt, trên cả ngàn sĩ tử dự thi. Vào đến trường ba, ai ai cũng đinh
ninh rằng Tuấn sẽ đậu Tú tài. Nào ngờ vì chép đề thi thiếu mất một chữ
mà phải lạc đề. Kinh nghĩa, tứ lục Tuấn đều đứng nhứt. Thi phú ở trường
ba là món rất hợp với sở trường, Ðặng Ðức Tuấn không ngờ mình lại vô
duyên với trường ốc như thế.
ÐẠO CÔNG GIÁO GẶP KHÓ
KHĂN
Năm 1825 là năm có tàu
Thétis vào cửa Ðà nẵng. Giáo sĩ Rogerot ở lại, đi giảng đạo các nơi. Vua
Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo và nghiêm lện cho các hải phòng nha phải cẩn
thận xét hỏi các tàu bè qua lại. Năm 1835, nhân vụ Lê Văn Khôi khởi loạn
ở Nam kỳ, quan quân nhà vua hạ thành Phiên an (Gia định) và bắt được
linh mục Marchand (cố Du) ở trong thành. Cố Du bị cáo buộc là đã theo Lê
Văn Khôi làm loạn nên vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo càng nghiêm.
Lúc bấy giờ Ðặng Ðức
Tuấn cùng với anh mình là Ðặng Ðức Hóa ở quê nhà cày ruộng và dạy học.
Ðặng Ðức Hóa đã đậu Tú tài, còn người em út là Ðặng Ðức Bình đã qua đời
vì bệnh đậu mùa. Vào thời buổi này Giáo hội Việt nam còn thiếu cơ sở đào
luyện linh mục, các chủng sinh phải xuất dương du học tại Ðại chủng viện
Phi Năng (Penang), một đảo của Mã lai thuộc Anh quốc. Việc truyền đạo ở
Việt nam mà thiếu Hán văn thì khó thu kết quả, cho nên, ngoài những môn
học cần thiết, chủng sinh Việt nam còn phải học thêm Hán văn. Học Hán
văn thì các chủng sinh Việt nam rất sẵn sàng, ngặt vì học với thầy Tàu,
đọc theo giọng Tàu, thì dẫu cố gắng cách mấy cũng không vô. Thật là nan
giải.
ÐẶNG ÐỨC TUẤN ÐƯỢC
TUYỂN CHỌN LÀM GIÁO SƯ HÁN VĂN TẠI ÐẠI CHỦNG VIỆN PENANG
Cuộc khủng hoảng về
giáo sư Hán văn ở chủng viện Penang gây lúng túng cho hàng giáo phẩm
Việt nam, vì khó kiếm được một giáo sư Hán văn vừa có khả năng vừa sẵn
sàng khứ quốc. Ðức cha Thể (Mgr. Cuénot) dò hỏi các giáo hữu trong địa
phận Qui nhơn - Huế, thì có người giới thiệu Ðặng Ðức Tuấn là người
thông nho, chưa lập gia đình, có nhiệt tâm với Giáo hội, nếu xuất dương
mấy năm đi nữa thì cũng không vướng bận gì. Sau đó, Ðặng Ðức Tuấn được
đưa đến yết kiến Ðức cha Thể, và khi được ngài hỏi về nhiệm vụ dạy Hán
văn ở hải ngoại, Ðặng Ðức Tuấn hăng hái nhận lời. Liền đó Ðặng Ðức Tuấn
được đưa vào Gia định, chờ tàu đi ngoại quốc. Lúc bấy giờ vào khoảng đầu
đời Thiệu Trị.
Ðến Phi năng, một trung
tâm Giáo hội văn hóa Ðông Tây, ngoài giờ giảng dạy Hán văn, Ðặng Ðức
Tuấn chú tâm nghiên cứu ngoại ngữ và học cả tiếng La tinh là ngôn ngữ
căn bản của Giáo hội. Vốn tư chất thông minh và bản tính hiếu học, sau
ba năm tự học với sự dìu dắt của chủng sinh, trình độ hiểu biết về tiếng
La tinh, Anh ngữ, Pháp ngữ của Ðặng Ðức Tuấn đã đạt đến mức khả quan, có
thể đọc và hiểu một số sách vở về giáo lý.
ÐẶNG ÐỨC TUẤN DẤN THÂN
VÀ ÐƯỢC NHẬN LÀM CHỦNG SINH ÐẠI CHỦNG VIỆN PENANG
Một hôm cha Bề trên Ðại
Chủng viện Penang tình cờ gặp ông thầy dạy Hán văn đang nghiên cứu văn
phạm La ngữ, do tác động bên trong, ngài hỏi: "Con có muốn học để làm
linh mục không?" Ðặng Ðức Tuấn trả lời: "Ðó là ước nguyện bình sinh của
con, song chỉ hiềm con đã lớn tuổi." Cha Bề trên hứa can thiệp với Ðức
cha Thể để ghi tên Ðặng Ðức Thuấn vào sổ chủng sinh. Sự can thiệp có kết
quả mau chóng, và thế là Ðại chủng viện Phi-năng thu nhận một tu sĩ tinh
thông văn tự Ðông Tây. Sau bảy năm cố gắng học hành, Ðặng Ðức Tuấn đã
thấu triệt các môn thần học, triết lý, giáo luật, giáo sử v.v... và được
thụ phong chức Phó tế. Công phu xuất dương trên mười năm thật là hữu ích.
Ðặng Ðức Tuấn vừa giảng dạy Hán văn, vừa học hỏi để trở thành người
thông thái, đủ năng lực phụ tá Ðức cha Thể, duy trì đạo giáo trong thời
thế rất khó khăn.
ÐẶNG ÐỨC TUẤN THỤ PHONG
LINH MỤC VÀ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO VIỆT NAM BỊ BÁCH HẠI
Sau khi lãnh chức Phó
tế ở Ðại chủng viện Penang, Ðặng Ðức Tuấn trở về cố hương giúp việc Ðức
cha Thể và, sau một thời gian phục vụ, được Ðức cha phong chức linh mục
tại Toà Giám mục Gò thị, thôn Xuân phương, xã Phước sơn, quận Tuy phước,
tỉnh Bình định. Vị tân linh mục do lệnh Ðức cha ra quản nhiệm giáo xứ
Châu me, quận Mộ đức và giáo xứ Trung tín, quận Bình sơn, Quảng ngãi
được sáu năm. Chiến tranh ở Ðà nẵng rồi Gia định bộc phát dữ dội, triều
đình Huế nghi kỵ người công giáo, đề phòng nội ứng bằng cách bắt giam
mọi giáo hữu. Nhà thờ bị phá hủy, bổn đạo lớp bị bắt, lớp đi ẩn tránh
tan tác. Cha Ðặng Ðức Tuấn phải lánh xa Quảng ngãi, trở về Bình định,
rồi lại từ Bình định trở ra Quảng ngãi.
Trên đường bôn tẩu hoạn
nạn, nhiều lúc cha Tuấn ghé vào nhà không công giáo mà vẫn được tiếp đãi
tử tế, là vì trước kia cha có dạy Hán văn, người được sĩ tử Bình định và
Quảng ngãi kính trọng. Và trong thời kỳ này, cha Tuấn đã soạn thảo hai
bản Ðiều trần nói về phương lược Bình Tây.
B.- SỰ NGHIỆP
CỦA LINH MỤC ÐẶNG ÐỨC TUẤN
Tu đức học định nghĩa:
Linh mục là một con người học hành và cầu nguyện "Le prêtre est un homme
d'étude et d'oraison." (1) Bản chất của linh mục là như thế khiến cho
cha Ðặng Ðức Tuấn phải đau khổ về ba cái tai họa trước mắt: Thiên Chúa
bị xúc phạm, nhân dân đồ thán, đất nước trên đường vong bại. Chính bản
thân mình cũng bị gông cùm, trăng trói, nhưng cha Tuấn vẫn vươn lên, đem
khối óc và bút lông cứu nước, minh đạo, tiến thẳng trên hai con đường
song song: Tôn thờ Thiên Chúa, Phụng sự Tổ quốc. "Của César, trả lại cho
César; của Thiên Chúa, hoàn về Thiên Chúa." (Mat.22,21). Ðó là những yếu
tố làm động cơ thúc đẩy linh mục Ðặng Ðức Tuấn đến sự nghiệp lớn.
TRÊN ÐƯỜNG LÂM NẠN
1. Bị bắt vì đạo
Chỉ dụ cấm đạo Công
giáo của triều đình Huế được thi hành nghiêm ngặt. Linh mục Ðặng Ðức
Tuấn phải rời nhiệm sở. Trên đường di động để vừa lẩn tránh vừa thăm lom
bổn đạo, cha Tuấn tạm trú nhà hương Côn ở Nga mân, tú Quới đến chơi, hai
bên hàn huyên tương đắc. Tú Quới ngưỡng mộ cái tài đức và văn học của
Ðặng Ðức Tuấn, nhưng đoán biết Tuấn là công giáo, nên sợ quan quyền hay
biết, không dám ém nhẹm, mà tự mình bắt thì ngỡ ngàng, thành thử kêu
làng xóm tới xét hỏi. Làng đòi đóng gông, nhưng Tú Quới bảo lãnh rước về
nhà mình, đãi đằng cơm nước. Sáng hôm sau, làng giải giao Ðặng Ðức Tuấn
cùng với ba đệ tử lên huyện Mộ đức.Trong thời gian bôn tẩu, nhìn vào thế
cuộc, tâm hồn đau xót vì Giáo hội lâm nạn, Nam kỳ bị Pháp xâm chiếm,
linh mục Ðặng Ðức Tuấn soạn thảo hai bản Ðiều trần gồm 6 trang: Bình Tây
sách và Minh Ðạo Bình Tây sách, để chờ có dịp dâng lên triều đình.
Trong lúc bị áp giải,
Ðặng Ðức Tuấn vẫn giữ hai bản Ðiều trần này trong gói hành lý. Bảo vật
tùy thân chỉ có tượng ảnh Ðức Mẹ, nhưng sợ quan quân tịch thu xúc phạm,
cha Tuấn đành phải gởi tượng Ðức Mẹ vào bộc cây da bên lề đường. Là bộng
cây, nhưng có vẻ tôn nghiêm cao trọng tượng trưng một bàn thờ thần
thánh. Cây da sum sê phản ảnh quyền lực toàn năng của Thiên Chúa Ba
Ngôi. Sau khi thành tâm khẩn cầu, cha Tuấn được xác tín rằng nhờ Mẹ phù
trì, mình sẽ vào chốn cửu trùng dâng sách lược bảo quốc an dân: Nam kỳ
phải được thu hồi chủ quyền, giáo hữu được hành đạo. Mong được toại
nguyện, mình sẽ noi gương Ðào Uyên Minh ca khúc "qui khứ lai từ", rước
tượng Ðức Mẹ từ bộng cây, về vui sống cùng con chiên bổn đạo cũ xưa.
2. Bị điệu dẫn ra trước
Huyện đường
Cất giấu tượng ảnh Ðức
Mẹ và cầu khẩn xong, linh mục Ðặng Ðức Tuấn được đoàn người áp giải đưa
lên huyện Mộ đức. Quan tri huyện lấy khẩu cung. Ðọc hai bản Ðiều trần,
thấy bàn nhiều việc lớn an nguy nước nhà, quan huyện nể tác giả, không
nạt nộ ban ngày, đợi đến đêm kêu tác giả để điều tra riêng. Biết đích
xác tác giả hai bản Ðiều trần là đạo trưởng (2), quan thu thập đủ tài
liệu vi bằng trình Tỉnh.
3. Ra trước Tỉnh đường
và mang gông sắt
Vào thời đó, ba quan
đầu tỉnh Quảng ngãi là: Tuần vũ (tỉnh trưởng) Châu Phúc Hy; Bố chánh
(phó tỉnh trưởng) Nguyễn Tăng Tín; Án sát (tư pháp) Nguyễn Hiển. Trước
nhứt, Ðặng Ðức Tuấn được giải giao cho quan Án sát. Án sát nhận thấy
Tuấn là một trọng tù, truyền đóng gông lá sắt (3), đợi sáng ngày sẽ hội
đồng với quan Bố chánh để hỏi cung. Sáng hôm sau, hai quan Bố và Án ra
ngồi công đường, truyền đem phạm nhơn vào. Cứ tục lệ thời đó, hễ là công
giáo, thì phạm nhân phải đạp Thánh giá là điều trước tiên khi ra trước
công đường. Nhưng Ðặng Ðức Tuấn cương quyết và lễ phép từ chối với lý lẽ
rất phân minh. Quan Bố chánh là người phục thiện, nên cho miễn xúc phạm
Thánh giá.
Ðến lượt quan Án sát
hỏi: "Tuấn học đạo với ai? Chịu chức do ai? Ði Tây hồi nào?" Ðặng Ðức
Tuấn xin ban giấy bút để cung khai tại chỗ. Quan y cho. Ðặng Ðức Tuấn
trả lời bằng tờ Thừa khai tại chỗ bằng bài vè bốn chữ, 88 câu rất khôn
khéo, thông minh, tránh né không gây liên lụy đến ai, chỉ khiếu nại oan
ức ho mình và cho giáo hữu. Sau khi đệ nạp tờ Thừa khai, thì còn bị hai
quan vặn hỏi một vài điều về địa lý thế giới. Tuấn đã trả lời minh bạch,
và nhân thể thuyết minh đạo Công giáo là đạo được giảng truyền từ Rôma
chớ không từ Pháp. Hai quan Bố, Án tạm xếp, chờ quan Tuần vũ kinh lý về,
sẽ mở hội nghị công đồng xét đoán.
4. Bị tra tấn
Sau đó mấy ngày, quan
Tuần vũ về, Ðặng Ðức Tuấn bị điệu ra trước ba quan đầu tỉnh, bị tra hỏi
ba lần và mỗi lần bị 36 roi, và mỗi roi là một lần nứt da lòi thịt. rồi
thì Tuấn được trở về nhà giam, chờ ngày xét xử.
II. PHỤNG CHỈ LAI KINH
Ít hôm sau, có quan
Thanh tra từ triều đình vào với nhiệm vụ dò xét tình hình chính trị,
quân sự địa phương. Hai quan Bố, Án khoe trình sáu trang điều trần lên
quan lớn xem. Ðọc xong, Thanh tra chỉ thị quan tỉnh làm sớ tấu qua Cơ
Mật viện dâng lên Hoàng thượng ngự lãm. Quan tỉnh thi hành, truyền mở
gông cho Tuấn chép lại Ðiều trần, đệ trình về Kinh.
Một cuộc lai kinh ngộ
nghĩnh. Tù mà được đi võng, dân phu và lính tráng phải túc trực đưa đón.
Ðưa đón quá đắc lực nên đến Kinh chỉ trong hai ngày. Từ Quảng ngãi ra
Huế phải 300 cây số, phương tiện nhanh nhất thời đó là ngựa. Nghe chuyện
lạ, thiên hạ rủ nhau đi coi chật đường Huế.
1. Trình diện Binh bộ
Thượng thơ
Về đến triều đình, Ðặng
Ðức Tuấn trước nhứt đến trình diện quan Thượng thơ bộ Binh Lâm Duy Hiệp.
Tuấn giảng minh về tam phụ: Chúa Trời, Vua Quan, Cha Mẹ. Về giáo hội:
Giáo hoàng Rôma quản trị Công giáo, không phải Pháp, tiếp đến minh oan
cho giáo hữu lâu nay bị triều đình nghi ngờ là ám thông, nội ứng cho
giặc. Dẫn chứng vừa rồi tàu Tây đến đánh cửa Hàn (Ðà nẵng), giáo hữu đâu
có ùa theo Tây, trái lại vẫn tuân thủ pháp luật của triều đình, đi lính,
đóng thuế, làm xâu. Họ trọn vẹn là những lương dân của nhà vua. Giặc
Pháp mạo danh "tự do giảng đạo" gây chiến tranh, trục lợi. Trước mặt bá
quan, Ðặng Ðức Tuấn trình bày thông suốt, lý lẽ vững chắc. Quan Lâm khen
ngợi, các quan khác đều tỏ ý tán thưởng những chánh ngôn, chánh lý. Sau
đó thi hành lệnh quan Lâm, Ðặng Ðức Tuấn làm tờ khai, lính Trấn phủ dẫn
qua Hình bộ nạp tờ khai, rồi về Trấn phủ đợi lệnh.
2. Trình diện Hình bộ
Thượng thơ
Diện trình Thượng thơ
bộ Binh xong, Ðặng Ðức Tuấn yết kiến Thượng thơ bộ Hình. Nơi đây, Ðặng
Ðức Tuấn được đãi ngộ, được mời cơm nước, quan trên cấp giấy bút để lập
thêm hai bản Ðiều trần khác. Hai bản Ðiều trần này được vua ngự lãm, tán
thưởng văn tài, xét kỹ nội dung về những ý kiến trị quốc an dân, nên chỉ
trong ngày sau là có sắc chỉ miễn tội và ban thưởng cho đạo trưởng Ðặng
Ðức Tuấn. Lúc bấy giờ quan, dân ở kinh đô chuyển hướng, từ phỉ báng đến
ngợi khen đạo giáo.
Sau đó, Ðặng Ðức Tuấn
còn soạn thảo thêm hai bản điều trần nữa, tức là bản thứ năm và thứ sáu
dâng lên Ngự tiền, nội dung nói lên nỗi oan khiên của người công giáo,
khuyên triều đình đừng mắc mưu giặc mà tác hại dân mình. Vua Tự Ðức nghe
theo kế sách này, truyền cho quan Cơ Mật ra thông tư nói về chủ trương
mới của Triều đình cho các tỉnh. Chính nhờ bốn bản Ðiều trần sau này mà
vua Tự Ðức quyết định bãi bỏ biện pháp Phân Sáp, một biện pháp bất nhân
do bọn hủ lậu độc ác bày ra.
Sau đó, Ðặng Ðức Tuấn
được vua Tự Ðức chỉ định, ngoài việc cố vấn và thông ngôn cho Phái bộ
Phan Thanh Giản - Lâm Duy Hiệp nghị hoà với Pháp, còn đặc trách an dân
nữa. Do sắc chỉ của Cơ Mật viện theo lệnh vua, Ðặng Ðức Tuấn qua tỉnh
nào thì giáo hữu tỉnh đó được giải thoát ngục tù và phân sáp.
III. NAM DU NGHỊ HOÀ
1. Chuẩn bị nghị hoà
Lúc bấy giờ, sứ giả của
Soái phủ Pháp từ Sài gòn đáp tàu tại cửa Thuận an, vào Huế hỏi Triều
đình muốn nghị hoà hay tiếp tục chiến tranh. Triều đình muốn nghị hoà.
Soái phủ yêu cầu Triều đình cử toàn quyền đại thần vào Sai gòn thương
nghị. Triều đình chưa biết cử ai. Trong các quan lớn, không ông nào muốn
lãnh sứ vụ, vì sợ Soái phủ phản trắc bắt giữ. Ðược quan Lâm Duy Hiệp hỏi
ý kiến, Ðặng Ðức Tuấn quả quyết: "Không thể xảy ra vụ Pháp bắt giữ sứ
thần của ta. Vậy ông lớn cứ vào thương thuyết, hoà được thì hoà, không
hoà được thì về ngay." Ðặng Ðức Tuấn xin tháp tùng để giúp đỡ Phái bộ.
Vua cho vời Ðặng Ðức
Tuấn vào Hoàng thành hỏi han các việc. Tuấn xuất nhập có giấy phép hợp
lệ, lính Cẩm y thị vệ gặp mặt là phải "Bẩm ngài". (4) Vua Tự Ðức truyền
cho Thủy sư Ðề đốc dùng tàu Loan Thoại đưa phái đoàn Phan Thanh Giản -
Lâm Duy Hiệp, có Ðặng Ðức Tuần làm tùy viên vào Gia định. Trước khi đi,
vua ban yến tiệc tống hành, quan quân đưa đón trọng thể.
2. Nghị hoà
Tàu Loan Thoại ra cửa
Thuận an, có tàu Forbin của Pháp đón tiếp, cột dây kéo vào Gia định. Dân
chúng Nam kỳ nghe tin có tàu vua mình đến, ra đứng bờ trông đợi, tỏ tình
quyến luyến với Phái bộ. Sài gòn bây giờ khác hẳn năm xưa, ngoại kiều
đông đảo, phố xá nghênh ngang. Phái bộ Việt nam đến đất cũ của mình mà
cảm thấy như mình đang đật chân đến một miền xa lạ.
Hội nghị Giảng hoà khai
diễn ngày một tháng năm, năm Nhâm Tuất, tức 6 tháng 6 năm 1862. Sau các
nghi lễ tiếp đón, hội khám ủy nhiệm thư, sứ thần ba nước Việt nam, Pháp
và Tây Ban Nha bàn vào việc chính.Pháp đòi ta bồi chiến phí năm triệu
đồng và cắt giao trọn sáu tỉnh Nam kỳ. Thấy điều kiện giảng hoà quá
nặng, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp hỏi ý kiến Ðặng Ðức Tuấn. Tuấn
phát biểu ý kiến bảo quốc "chỉ bồi tiền chứ không nhượng đất". Sau mấy
ngày thương thuyết, đến ngày chín tháng năm, năm Nhâm Tuất, phái bộ ta
chịu nhường cho Pháp ba tỉnh miền Ðông (Biên hoà, Gia định, Ðịnh tường)
và bồi chiến phí bốn triệu đồng. Ngày ký Hiệp ước, Pháp làm lễ mừng, cờ
treo khắp phố, súng bắn vang trời.
3. Sứ mạng hoàn thành
Ðặng Ðức Tuấn cùng với
Phái bộ lên tàu Loan Thoại rời Sài gòn ngày 11 và về đến cửa Thuận an
đêm 14. Trấn hải đài bắn súng chào mừng. Ðặng Ðức Tuấn được trở về nhiệm
sở cũ ngày 24 tháng 5, nhưng vì các quan có ý lưu lại kinh đô để chờ xem
tình hình có diễn biến gì không thành thử lịch trình hồi hương bị chậm.
Trở về cảnh cũ người
xưa, Ðặng Ðức Tuấn trong lòng bùi ngùi khôn xiết. Cảnh vật tàn xiêu,
trong số người xưa, nhiều kẻ khuất bóng. Vừa người vừa cảnh, mười phần
nay chỉ còn ba! Tuy nhiên, thâm tâm vẫn có cái mầm tin tưởng phấn khởi:
Tượng ảnh Ðức Mẹ giấu trong bộng cây thuở hoạn nạn nay còn y nguyên. Nhờ
Ðức Mẹ, phận mình cũng có góp công vãn hồi hoà bình đất nước và tự do
công giáo.
Sau Hoà ước Nhâm Tuất
1862, linh mục Ðặng Ðức Tuấn được toà Giám mục Gò thị chỉ định quản
nhiệm giáo xứ Tân lộc, quận Sơn tịnh, Quảng ngãi, rồi đổi về Hoà mục, xã
Cát tài, và cuối cùng về Nước Nhĩ, thôn Chánh khoan, xã Mỹ lợi, Phù mỹ,
Bình định. Trong thời gian này, cha Ðặng Ðức Tuấn còn hai lần phụng chỉ
lai kinh, cố vấn nhà vua một số ý kiến chính trị.
Linh mục Ðặng Ðức Tuấn
được giáo hữu và thân hào bắc Bình định gọi là "CHA KHÂM". Mang danh
hiệu này, vì người đã khâm mạng vua làm tùy viên trong Phái bộ Nghị hoà
và đi ủy lạo giáo hữu bị tù ngục và phân sáp. Và vì kính mến người nên
người địa phương còn xưng hô người bằng húy danh "CHA NĂM".
IV TỪ TRẦN
Linh mục Ðặng Ðức Tuấn
từ trần thánh thiện tại Nước Nhĩ ngày 11 tháng 6 năm Giáp Tuất, 1874, để
lại nơi đây niềm thương tiếc lớn với nhiều kỷ niệm cao quý như: một kho
tàng văn hóa, một tư tưởng nhân bản, một tình thương dân tộc và ái quốc,
tinh thần tôn sùng Ðức Mẹ. Phần mộ của cha Tuấn hiện nay nằm kề nghĩa
trang các đấng tử đạo Nước Nhĩ.
KẾT LUẬN
Linh mục Ðặng Ðức Tuấn
là một nhà ái quốc, đồng thời là một chân tu và là một trí thức công
giáo. Cha Tuấn là một bậc quân tử, dùng văn chương chuyên chở đạo lý (văn
dĩ tải đạo). Cái đặc biệt ở nơi cha Tuấn là một linh mục ở thượng bán
thế kỷ 19 mà dùng triết thuyết Khổng giáo để bênh vực đạo công giáo giữa
triều đình Huế, một triều đình nhìn nhận Khổng học như Quốc giáo và coi
Công giáo là tả đạo cần phải tiêu diệt.
TỪ NGỮ
(1) Rút trong sách "Jésus
vivant dans le Prêtre"
(2) Ðạo trưởng: Lúc bấy
giờ, linh mục bổn quốc gọi là Ðạo trưởng, linh mục Pháp, Tây Ban Nha thì
gọi là Tây dương Ðạo trưởng
(3) Lá sắt: gông thiết
diệp, gông sắt dùng để đóng vào những tù quan trọng, nguy hiểm
(4) Ngài: các thị vệ
phải trịnh trọng với cha Tuấn. "Bẩm ngài" là lối xưng hô rất phép tắc.
Ðối với Phủ Huyện thì gọi là Quan. Với quan tỉnh thì gọi là Quan lớn.
Với quan Thượng thơ thì gọi là Ông lớn. Với các quan trong Cơ Mật viện
thì phải gọi là Ngài.
(Tài liệu tham khảo: "Tinh
Hoa Ái Quốc Công Giáo Việt Nam" của GS. LAM GIANG và LM. VÕ NGỌC NHÃ)
Maryland, tháng 5 năm
1999
HUỲNH NHUẬN
Ðặc san
HOA
TÌNH THƯƠNG
sô 2, năm 1999
http://members.fortunecity.com/tbn2170/b2-ddtuan.htm
Mời xem thêm:
Linh mục
Sảng Đình Nguyễn Văn Thích
|
| cập nhật ngày 17 tháng 12 năm 2005 |
| © 2005 Gia Nhân |