.

                 GIÁO PHẬN NHA TRANG

Vĩnh Phước

Home
Up
Chánh Toà
Ba Làng
Bắc Thành
B́nh Cang
Cầu Ké
Chợ Mới
Giuse (Quân Trấn)
Hoà Thuận
Khiết Tâm
Lương Sơn
Ngọc Thanh
Ngọc Thuỷ
Phù Sa
Vĩnh Phước
Phước Hải
Phước Hoà
Thánh Gia
Thanh Hải

Back ] Home ] Up ] Next ]

GIÁO XỨ VĨNH PHƯỚC

Ðông giáp Biển Nha Trang.

Tây giáp Núi Sạn.

Nam giáp Sông Cái (từ cầu Hà Ra).

Tây Nam giáp Giáo xứ Ngọc Thuỷ (ranh giới Phường Ngọc Hiệp).

Ðông Nam giáp Giáo xứ Hoà Thuận (sông Hà Ra)

Bắc giáp Giáo xứ Thanh Hải (Ðá Chẹt, đường Bêlem).

Gồm hai Phường Vĩnh Thọ và Vĩnh Phước.

* Có Họ lẻ Ngọc Thanh (Hà Ra).

 

  • Thành lập:

  • Bổn mạng: Hai Thánh Phêrô và Phaolô

  • Kính ngày: 29.6

  • Số giáo dân: 2216 (năm 1998)

  • Linh mục quản xứ: Giuse Nguyễn Xuân Quý OFM

  • Ðịa chỉ hiện nay: Tổ 32 Khu Phố Trường Phúc - Vĩnh Phước, Nha Trang.

  • ÐT: 831112.

  • Chầu Mình Thánh Chúa: Chúa Nhật XII TN

  • Giờ lễ

Thánh lễ Chúa Nhật

  • Lasan: 4g45

  • Thánh lễ I: 5g

  • Thánh lễ II: 7g15

  • Thánh lễ III: 16g00

Thánh lễ ngày thường

  • Lasan: 4g45

  • Sáng: 4g30

  • Chiều;17g00

 

Lược sử:

1. Vị trí địa lý

Giáo xứ Vĩnh Phước nằm dọc hai bên Ðường 2 tháng 4: Ðông giáp biển Nam Hải với 3 trung tâm Kitô Giáo nằm sát ven biển trên đồi cao là Trường Dòng Các Sư Huynh Lasan, Tu viện Phanxicô và Thần học viện Tin Lành, nay trở thành Trường Ðại Học Thuỷ Sản, Trường Hành Chính, Trung tâm bồi dưỡng và Trường kế toán trung cấp... Phía Tây giáp chân Núi Sạn với bệnh viện to lớn gọi là Trung Tâm Bài Cùi được các tu sĩ Phanxicô và giáo dân xứ đạo Vĩnh Phúc thiết lập, ngày nay gọi là Bệnh Viện Da Liễu... Phía Nam giáp Sông Cái, Phía Bắc giáp Phường Vĩnh Hải với Trung Tâm Dưỡng Lão Rù Rì to lớn, cũng do các tu sĩ Phanxicô và giáo dân Vĩnh Phước góp phần xây dựng.

2 Hình thành và phát triển

Giáo xứ Vĩnh Phước có tên có tuổi trong Giáo phận Nha Trang kể từ 1957. Trước 1964 gọi là Họ Ðạo Cù Lao, vì số giáo dân thu hẹp ở trên địa bàn làng Cù Lao, thuộc Xã Vĩnh Phước. Khi số giáo dân tăng lên đông đảo ở rải rác trên toàn Xã, thì Họ Ðạo Cù Lao lại được đổi tên là Giáo Xứ Vĩnh Phước. Ngày nay, Xã Vĩnh Phước được chia thành hai Phường: Vĩnh Phước và Vĩnh Thọ. Ðể tránh sự nhầm lẫn với Nhà thờ Vĩnh Phước của anh em Tin Lành, Nhà thờ Giáo xứ Vĩnh Phước được gọi là nhà thờ An-Tôn Vĩnh Phước.

Trong địa bàn của Giáo xứ, có thắng cảnh Tháp Bà, một cổ tháp do dân tộc Chàm xây dựng đã 1900 năm, trên một ngọn núi nhỏ, sát đường 2-4, kề bên chiếc cầu Bóng nổi tiếng bắc qua Sông Cái, dài 300m, vững chắc và tráng lệ.

Một buổi chiều hè, đông đảo dân chúng tới thưởng thức những làn gió mát của biển khơi và ngắm nhìn những đoàn tàu thuyền qua lại trên Bến Cá.

Lại còn có thắng cảnh Hòn Chồng thơ mộng với những tảng đá to lớn ngâm mình trong nước, chồng chất lên nhau tạo thành một vẻ đẹp hùng tráng đầy quyến rũ. Nơi đây có hang đá để nấp mưa, ẩn gió, nơi kia có chỗ dựa lưng ngồi ngắm cảnh trời mây nghe tiếng sóng vỗ, đưa mắt liếc sóng biển mênh mông vô tận. Các du khách cũng như dân địa phương cũng thích đến chỗ này để thưởng thức cảnh đạp thiên nhiên. Ðến một lần sẽ nhớ mãi không quên.

Từ năm 1930, Dòng Các Sư Huynh Lasan đến đặt cơ sở tu trì và giáo dục ở đồi Cù Lao, một số giáo dân từ Quảng Trị, Thừa Thiên vào đây sinh sống giúp các việc nội dịch cho Dòng, lập cư gần tu viện. Năm 1939, tiếp theo lại có các tu sĩ Dòng Phanxicô Khó Nghèo đến khai thác một quả đồi gần bên và xây dựng nên Tu Viện. Công trình xây dựng này đã chiêu tập một số lớn công nhân mà phần đông là người Công Giáo. Do đó, số dân lại được tăng thêm. Việc sinh hoạt tôn giáo của các giáo dân này đều nhờ vào Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, Tuyên uư cho Dòng Lasan lúc bấy giờ, giáo dân thường xuyên tham dự thánh lễ ở nhà thờ Dòng Lasan hoặc Dòng Phanxicô.

Năm 1947, chiến tranh tạm ngừng, các Linh mục Dòng Phanxicô bắt đầu tiếp xúc và hướng dẫn số dân này về phần thiêng liêng.

Năm 1949, Linh mục Bernard Dương Liên Mỹ, Dòng Phanxicô, được cử coi sóc bà con giáo dân ở Cù Lao, đồng thời dạy dỗ một số anh chị em "Tân tòng" từ Lương Sơn di cư vào Phú Xương. Vì nghĩ rằng trong tương lai sẽ có nhiều người tân tòng ở Phú Xương hơn ở Cù Lao, nên Ngài đã cất tạm một nhà thờ ở Phú Xương, đối với Trường Hạ Sĩ Quan Ðồng Ðế bấy giờ. Số giáo dân Cù Lao nhập lại với số giáo dân Phú Xương thành lập họ Phú Xương (Thư T.G.M Nha Trang, 20.12.1950).

Nhưng năm 1953, nhà thờ Phú Xương phải dời về địa điểm Thanh Hải. Và từ đó xứ Phú Xương lại đổi tên là xứ Thanh Hải. Xứ đạo này sau khi đã có cơ sở vững vàng, có trường Tiểu Học Nam Thông, Dòng Phanxicô đã giao lại cho giáo phận Nha Trang từ hè năm 1959.

Năm 1954, với phong trào di cư vào Nam, số giáo dân từ Hà Tĩnh, Quãng Trị tới định cư ở Cù Lao rất đông. đầu năm 1959, Cù Lao đã có 96 gia đình, gồm 370 người. Cùng thời điểm này, Cù Lao được tách rời khỏi Thanh Hải, để trở thành một số nhà chính thức, có Cha Alix Bourgeois Dòng Phanxicô làm Cha Sở (Thư T.G.M Nha Trang ngày 1.9.1955).Năm 1956, xứ Cù Lao đã có 200 gia đình với số giáo dân tăng lên 938 người.

Vì nhu cầu bắt buộc, năm 1957, một ngôi Thánh đường đã được cất lên gấn Quốc lộ I (nay là đường 2 tháng 4) rộng 6m, dài 20m (năm 1978, ngôi Nhà Thờ này đã nhường lại cho các Tu sĩ Phanxicô làm Tu viện hiện nay).

Nha Trang có địa lợi, nhân tài, có danh lam thắng cảnh hấp dẫn thập phương, đồng bào khắp nơi tìm về đây xây dựng cuộc sống. Riêng ở xứ Vĩnh Phước, năm 1962, số giáo dân đã tăng lên 1540 người.

Nhà thờ xây cất năm 1957, nay đã hoá ra chật hẹp lần nữa lại phải đặt ra vấn đề làm lại Nhà thờ cho rộng rãi hơn.

Ngày 7/4/1963, Ðức Cha Piquet, Giám mục Giáo phận Nha Trang đã đến đặt viên đá gốc cho Nhà thờ. Cùng năm ấy, xứ Cù Lao được đổi tên là xứ Vĩnh Phước. Nhờ sự khích lệ, giúp đỡ của Giáo phận về mặt tinh thần cũng như vật chất, các xứ Ðạo đàn anh, đàn chị đã gởi tiền ủng hộ. Mọi giáo dân trong xứ Vĩnh Phước, ai ai cũng nô nức sẵn sàng góp công, góp của để thực hiện việc xây cất. Riêng đối với bà con của hai Khu giáo làng chài Phêrô và Phaolô ngoài sự phân bổ nghĩa vụ đóng của Giáo xứ, bà con trong 2 Khu giáo đã dùng ngày Chúa nhật đem thuyền ra khơi đánh cá "đổ đồng" giúp Giáo xứ.

Với sự cố gắng phi thường của bà con giáo dân sở tại, kết hợp với sự hỗ trợ rộng rãi của các ân nhân xa gần, đặc biệt với tinh thần năng nỗ tích cực của Linh mục Alix Bourgeois, và Ban Hành Giáo xứ. Sau thời gian 8 tháng vất vả và lao nhọc, giáo xứ đã hoàn thành xây dựng ngôi nhà thờ với chiều rộng 15m và chiều dài 50m. Ðầu năm 1965, Linh mục Gerard Phạm Anh Thái đươc bổ nhiệm làm Cha Sở thay Linh mục Alix. Số giáo dân có 316 gia đình với 2053 cuối năm 1966, nhưng cuối năm 1967 số giáo dân lại tăng lên 371 gia đình.

Năm 1969, Linh mục Berard Trần Bá Phiên được bổ nhiệm làm Cha Sở thay Cha Thái. Với tinh thần hoạt bát năng nổ của ngài, kết hợp với tin thần đạo đức tận tình giúp đỡ của bà con giáo dân và ân nhân xa gần.Giáo xứ lại xây thêm một nhà ở cho Cha Xứ, nhà hội cho các lớp Giáo lý và lớp Thiếu Nhi Thánh Thể - Năm 1974, số Giáo dân đã tăng lên tới 2548 người.

Năm 1975, biến cố giải phóng miền Nam đã gây ra sự di tản của một số bà con giáo dân trong xứ đạo, một số đi về quê, một số đi vùng kinh tế mới hoặc đi ra nước ngoài,số giáo dân đã giảm xuống chỉ còn độ 1500 người. Tuy nhiên, cho đến năm 1997, giáo xứ lại được tăng lên 450 gia đình với số giáo dân khoảng 2200 người.

Trong lúc giao thời, Linh mục Phêrô B. Ðỗ Long Bộ đã giữ trách nhiệm Cha Sở xứ Ðạo thay Linh mục Berard Phiên từ 1975 đến 1978. Giáo xứ Vĩnh Phước có một đặc điểm đáng ghi nhớ là từ ngày khai sinh đến nay, các Linh mục quản xứ đều là các linh mục Dòng Phanxicô. Linh Mục Vincentê Hoàng Văn Lư, được bổ nhiệm làm Cha Sở từ tháng Giêng năm 1979, có các anh em Tu sĩ Phanxicô ở lại Tu Viện kế bên Nhà thờ giúp đỡ làm công việc phục vụ giáo dân trong giáo xứ.

Tháng 11 năm 1990, nhận thấy nhận thấy Nhà thờ được xây cất từ 1963 có nhiều mặt xuống cấp trầm trọng vì trải qua biết bao nắng mưa sương gió, giáo xứ đã phải trùng tu lại nhà thờ hợp với hoàn cảnh và nhu cầu cần thiết. Hiện nay, giáo xứ được diễm phúc có một ngôi Thánh Ðường mới, tôn nghiêm, bề thế, với tháp chuông cao 20m, sánh vai với các ngôi Thánh Ðường lớn có tầm cỡ trong giáo phận nhà.

Tóm lại giáo xứ Vĩnh Phước từ ngày khai sinh đã từng bước được hướng dẫn, dưỡng nuôi trong tình thương bao la và lòng đạo đức gương mẫu của quí Linh mục, quí thầy Dòng Phanxicô, nên đã lớn khôn, trưởng thành như ngày nay. Ðặc biệt là Linh mục Alix Bourgeois, người có công khai sinh ra Giáo xứ, vàø Cha Vincentê Hoàng Văn Lư, với 19 năm trong trách nhiệm làm Cha Sở, tiếp tục vun đắp công việc của các vị tiền nhiệm. Ngài có công rất nhiều trong việc tái thiết, kiện toàn dung mạo của Nhà thờ và của Giáo xứ từ nội dung đến hình thức như hiện có.

Vậy, Giáo xứ Vĩnh Phước tuy rằng gồm các giáo dân ở nhiều địa phương tụ họp lại, khác tập quán, khác cung giọng, nhưng qua thời gian đã chung lưng góp sức xây dựng, lắm lúc phải giũa gọt mới suông sẽ, thế nhưng ngày nay cũng nhờ sự dị biệt đó mà tất cả đã nên như nhiều cành hoa khác nhau, gom thành một đoá hoa lắm sắc muôn màu trong Giáo phận Nha Trang vậy.

Các Linh Mục quản xứ thuộc Dòng Phanxicô

  • Lm Alix Bourgeois 1955 - 1965

  • Lm Gérard Phạm Anh Thái 1965 - 1967

  • Lm Clêrueutê Trần Thế Minh 1967 - 1969

  • Lm Bérard Trần Bá Phiên 1969 - 1975

  • Lm Phêrô Baptista Ðỗ Long Bộ 1975 - 1979

  • Lm Vincentê Hoàng Văn Lư 1979 - 1998

  • Lm Giuse Nguyễn Xuân Quý 1998 -

Hoa quả ơn gọi của giáo xứ

  • Lm Micae Nguyễn thế Minh

  • Lm Phêrô Nguyễn văn Hưởng

  • Lm Phêrô Nguyễn văn Quý

  • Lm Noberto Nguyễn văn Khanh

  • Lm F.x Trần xuân Thứ

  • Lm Phêrô Nguyễn quang Vinh

  • Lm Jbm Nguyễn anh Thư

  • Lm Giêrađô Nguyễn quang Minh

  • Lm Micae Nguyễn minh Lập

  • Lm Gioakim Nguyễn kim Khánh

  • Tu sĩ: Tađêô Phạm văn Hiền

  • Nữ tu: Nguyễn thị Lợi

  • Nữ tu: Nguyễn thị Tiên

  • Nữ tu: Trần thị Thân

  • Nữ tu: Trần thị Hạ

  • Nữ tu: Nguyễn thị Cường

  • 3 chị tu đời

  • dự tu Trần thị Loan

Sinh hoạt giáo xứ

1. Các lớp giáo lý

Ðồng ấu: 3 lớp. Thêm sức: 3 lớp. Bao đồng: 3 lớp. Trung kiên 1 lớp.

Bồi dường Giáo Lý Viên. Hôn nhân và Tân tòng: Mỗi năm 2 khoá chính thức

2. Các hoạt động:

Tham gia với địa phương trong Hội Chữ Thập Ðỏ. Thường xuyên hưởng ứng giúp đỡ các hội của Thành Phố Nha Trang: Người mù, tàn tật, nông dân, người cùi.

Tự nguyện giúp đỡ các trường hợp già nua, bệnh tật, nghèo khổ trong giáo xứ.

Hướng tương lai

Giáo dân có ý thức và thao thức về truyền giáo. Không có tổ chức bên ngoài nhưng âm thầm bằng hành động và gương đời sống.

Tổ chức tốt giáo xứ, đời sống đạo, các ngày lễ và các lễ tang, lễ cưới, lễ giỗ và sẵn sàng tiếp đón là cách truyền giáo trong môi trường phức tạp này. Ðặc biệt với môi trường hoạt động tích cực của anh em Tin Lành số người Phật giáo hoặc cảm thấy đủ cho mình rồi, hoặc lơ là việc tôn giáo phải có truyền giáo bằng chứng tá lâu dài để đáp ứng mới nhu cầu thực tế trên.

Ưu tiên của giáo xứ: nâng cao học vấn, việc làm, sinh hoạt giới trẻ. Ước mong làm sao tạo được hăng say và nhiệt thành sống đạo và hành đạo trong giáo dân mà không cần dùng đến các hình thức tổ chức rầm rộ hoặc phô trương bên ngoài

 

 

Toàn Giáo xứ xin dâng lời ca ngợi: "" Deo gratias""

HỎI ẠI

Xứ Vĩnh Phước (truớc năm 1964 gọi là Cù Lao vì số giáo hữu thu hẹp trong địa hạt làng Cù Lao) nay mang tên mới này vì dân số công giáo ngày này tràng ra ngoài thôn Cù Lao và ở trên toàn xã. Xã này có tên là Vĩnh Phước, thuộc quận Vĩnh Xương (tháng 7- 1971 xã này được cải biến thành khu phố Vĩnh Phước). Phía đông giáp biển Nam Hải, có ba căn cứ kitô giáo đứng ở địa cầu phòng thủ những cơn sóng gió bấc thần: tu viện Phanxicô, dòng Thiện Giáo La San và thần học viện Tin Lành. Phía tây giáp chân núi Sạn (trên đỉnh vọng gác đại hàn và bờ bên kia có trung tâm bài cùi). Phía nam giáp sông cái, phía bắc giáp khu phố Vĩnh Hải, có một địa tỉnh hội Phật Giáo và cô nhi viện Tin Lành làm gạch nối.

Trong địa hạt giáo xứ này đặt biệt có thắng cảnh Tháp Bà, một cổ tháp đứng sững trên một ngọn núi nhỏ, cỏ cây um tùm, bên lề quốc lộ do dân Hồi xây đắp và nung chín, trên 300 năm trơ gan cùng phong vũ. Nay đã hao mòn không giữ nguyên hình thời cổ, song những ngày đại lễ và này đầu xuân thiện nam tín nữ tứ phương tìm đến xin số cầu may. Kế bên lại có chiếc Cầu Bóng dài trên 300m nối khối giáo hữu ở đất liền lại với số giáo hữu ở khu vực thứ 8 gọi là khu vực Hà Ra, vỏn vẹn được 20 gia đình chen lẫn giữa bao người khác đạo, bấp bênh trên một hòn đảo giữa lòng sông, hiện nay là một cánh đồng truyền giáo, trọng tâm công tác cho các đoàn thể trong xứ. Nơi này mới được mở một lớp học,làm khởi điểm cho sinh hoạt tông đồ tương lai, một nguyện đường mà chỉ nội chỗ đất đứng thôi đã tốn trên 4 triệu đồng, chưa hình thành, đang phải chờ đợi các mạnh thường quân lưu tâm đến " cánh đồng lúa chín" ra tay giúp đỡ.

Năm 1930-1931 dòng La San đến đặt cơ sở ở đồi Cù Lao, một số giáo hữu từ Thừa Thiên, Quảng Trị vào cộng tác các việc nội dịch của dòng, lập cư gần tu viện. Ðất lành chim đậu, 7 năm sau môn sinh thánh Phanxicô khó nghèo muốn tới gieo giống phúc âm, khai phá một quả núi gần bên, công trường xây cất này lại triệu tập một số lớn công nhân phần lớn là người công giáo, do đó số giáo hữu lại tăng. Nhóm người này tuy ăn chịu với giáo xứ Nha Trang song mọi sinh hoạt tôn giáo thường xuyên thì nhờ vào nguyện đường La San và sau đó là nguyện đường Phanxicô, vì nhà nguyện bên này vừa thuận tiện có một nửa dành cho giáo dân.

Mây hồng khi tụ khi tan, nhóm người này lại gặp chiến tranh bùng nổ năm 1945 tan nát, tản mát, kiếm đường lánh nạn. Hai năm sau lửa đạn lắng yên, ôm khăn gối tìm về chốn cũ, đồng thời một số đồng bào khác từ Lương Sơn, Cát Lợi cũng lánh cứ vào Phú Xương, Ðồng Ðế (Vĩnh Hải bây giờ) Cha Bernard Dương Liên Mỹ phụ trách.

Vào giữa năm 1954, chính trị đã thay đổi cục diện: số người di cư ngày càng đông, cuối năm 1955, số giáo dân đã vượt từ 100 lên đến 938 người. Người tăng công việc tiến, được sự đồng ý của Ðức Giám Mục Piquet, Dòng Phanxicô phái Linh mục Alix Bourgeois làm cha sở tiên khởi họ này, các nguyện đường không sao đủ chỗ cho bấy nhiêu người, phải tiến tới xây cất một nhà thờ riêng biệt cho họ. Nội trong năm tháng (từ ngày 26-03-1957 đến 11-08-1957) một thánh đường mới được hình thành bên lề quốc lộ I. Và năm sau, một ngôi trường mọc lên song song với ngôi thánh đường và tiếp tục lần hồi có đủ các lớp tiểu học. Sau đó hội trường và nhà xứ mới hoàn thành năm 1971.

Khánh Hoà là chỗ địa lợi, ít bị khói lửa chiến tranh tàn phá, có khí người hiền hoà hấp dẫn khách thập phương, nên năm 1962 số giáo dân lên tới 1554 người. Nơi thờ phượng trước khá rộng, nay đã hoá ra chật, một lần nữa lại đặt vấn đề khuếch đại, được sự giúp đỡ về tinh thần lẫn vật chất của Ðức Cha Piquet, và ngài đã đến đã đặt viên: đá gốc cho thánh đường tương lai vào ngày 7-04-1963. Với sự cố gắng phi thường của giáo dân sở tại lẫn sự hổ trợ rộng rãi của ân nhân xa gần, công tác xây cất này đã đạt được 95%, phần còn lại do những biến cố bất thường đưa đến. Nay đang đợi để hoàn tất.

Nhìn lại ta thấy giáo xứ Vĩnh Phước cũng là điểm chung thường gặp ở mọi địa sở, song giáo xứ này có một đặc điểm ít ở các có, cha sở luôn luôn là một cha dòng Phanxicô. Cha xứ hiện nay là linh mục Bernard Trần Bá Phiên, ngài đã quá ngủ tuần, song hoạt bát không thua gì người trẻ.

Giáo sử cho ta thấy, hội thánh tiên khởi ở La Mã cũng như ở Việt Nam, đã trải qua bao nỗi thăng trầm hầu như đó là một định lệ của mọi công việc Chúa đã cho tay con người cộng tác, ắt để thử thách đức kiên trì và lòng khiêm hạ, song cuối cùng Chúa vẫn dìu dắt lướt mọi sóng gió, giáo xứ Vĩnh Phước sau khi trỗ muộn, do người ở nhiều địa phương, khác tập quán, khác cung giọng, đã chung lưng góp sức xây dựng, lắm lúc phải gọt dũa mới suông sẽ, thì ngày nay cũng nhờ sự dị biệt đó, tất cả đã trở nên như nhiều cành khác nhau gom thành đoá hoa trăm sắc chưng lên thờ phượng Chúa tể Càn Khôn.

[Home] [Up] [Thư viện] [Sinh hoạt Gp] [Các Giáo phận...] [Nội dung trang web]


cập nhật ngày 29 tháng 12 năm 2005

© 2005 Gia Nhân

Hosted by Web Hosting Công Giáo miễn phí