Lịch Sử Giáo Phận Nha Trang

Thay Lời Mở Đầu

Từ căn cứ Thuận-Quảng tiếp tục cuộc Nam Tiến, năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần quyết định đưa dân quân vượt núi đèo đến tận Phan Rang. Chiếm đóng đất đai Chiêm Thành. Chúa Nguyễn đặt dinh mới Thái Khang (hay Thái Khương) gồm hai Phủ: Thái Khương và Diên Ninh. Năm 1695, chiếm đất Phan Rí, chúa Nguyễn Phúc Chu cải đổi Phủ Thái Khương làm Phủ B́nh Khang. Mười mấy năm sau (1742) đến lượt Phủ Diên Ninh đổi thành Phủ Diên Khánh.

Đầu đời Gia Long, Phủ B́nh Khang đổi thành Dinh B́nh Khang, mấy năm sau đổi thành Dinh B́nh Hoà. Năm Gia Long thứ 7, Phủ B́nh Hoà trở thành Trấn B́nh Hoà. Gần 20 năm sau lại thay đổi lần nữa, Phủ B́nh Hoà mang tên mới thành Phủ Ninh Hoà. Lần cuối cùng, thống nhất cơ chế hành chính toàn quốc, vua Minh Mạng đổi Trấn thành Tỉnh, tỉnh Khánh Hoà ra đời từ đó, cách đây đúng 170 năm.

Tỉnh Khánh Hoà gồm hai Ty Bố Chánh và Án Sát trực thuộc một viên quan kiêm lư hai tỉnh thành: Tuần Vũ Thuận-Khánh (B́nh Thuận và Khánh Hoà).

Tuỳ theo t́nh h́nh chính trị mỗi kỳ, chức trưởng vị quan đầu tỉnh có khi được nâng cấp: Thuận-Khánh Tổng-Đốc. Có khi trở lại chức vị cũ: Thuận-Khánh Tuần-Vũ quan pḥng.

Năm 1901, Ninh Thuận tách rời khỏi Khánh Hoà trở thành tỉnh Ninh Thuận (Phan Rang), từ đó đến năm 1945 tỉnh Khánh Hoà gồm bốn phủ, huyện: Diên Khánh (phủ), Vĩnh Xương, Ninh Hoà (phủ) và Tân Định.

Theo hiệp ước Patenôtre (06/6/1884), "trên danh nghĩa các quan lại An-Nam vẫn tiếp tục cai trị và làm nhiệm vụ của ḿnh trong vương quốc An-Nam", tỉnh Khánh Hoà trực thuộc triều đ́nh Huế gọi là chính phủ Nam Triều, tỉnh lỵ đặt lại Diên Khánh.

Dân chúng về sau thường vắn tắt gọi Diên Khánh là Thành v́ ở đây ngày xưa có thành Diên Khánh thuộc địa phận hai xă Phú Mỹ và Phúc Thịnh, xây cất từ năm 1793 và được tu bổ sửa sang nhiều lần, như năm Minh Mạng thứ 4, thành Diên Khánh có đắp đê chắn ngang sông và đào thêm cừ dẫn nước ở phía Bắc.

Về phương diện hành chính, tỉnh Khánh Hoà thuộc quyền Nam Triều trong lúc thị xă Nha Trang thuộc quyền chính phủ Bảo Hộ qua trung gian một viên quan cai trị người Pháp gọi là Công Sứ (Résident Maire) trực thuộc Toà Khâm Sứ Huế.

Nha Trang, vùng biển đẹp, thành phố Nha Trang, sau này Địa Phận Nha Trang.

T́m về nguồn gốc địa danh này, trước nay có nhiều giải thích suy đoán khác nhau. Có người cho rằng Nha Trang do địa danh Kauthara mà ra. Người khác lại suy diễn do hai chữ Aia Trang khai sinh. Có thể đúng, có thể không, trong khi chưa t́m thấy dẫn chứng nào chính xác rơ ràng hơn.

Ngoài các sách báo ngoại ngữ xuất bản lâu năm, t́m hiểu thêm tài liệu bổ túc, gần đây đọc thấy các sử liệu do Hội Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Minh Champa phổ biến (International Office of Campa, San Jose, Califorlia). Qua bài viết của Abdul Karim giảng viên phân khoa Ngôn Ngữ Học trường Đại Học Putra-Mă Lai, t́nh cờ thấy ghi địa danh Parik (Phan Rí), Pan Ran (Phan Rang) và Aia Trang trong một tập thơ t́nh dài 324 câu. Đúng hơn, tập hồi kư bằng thơ "Ariya Nai Mai Mang Makak", theo các nhà biên khảo Tây phương là tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học Chàm.

Nội dung tập thơ ghi lại chuyện t́nh giữa một hoàng thân Vương Quốc Champa-Panduranga và nàng công chúa Mă Lai:

"Nai mai mang Makak

Blaoh talai nai deh..."

"Nàng đến từ Makak

Rồi nàng dừng chân..."

Hai người hai hoàn cảnh riêng biệt. Nàng ra đi với sứ mệnh đưa hoàng tử Champa, hai vai gánh nặng trách nhiệm quốc gia đối với thần dân đang theo Ấn Độ Giáo, trở về với Hồi Giáo. Mặc dù nghịch cảnh, gặp nhau không chờ đợi, hai người yêu nhau tha thiết:

"Mắt em giếng nước trong xanh

Hạt kim cương rụng, giữa ṿng, điểm tâm"

"Hồn anh rơi rụng đắm ch́m

Chẳng ai kéo lại, chẳng người vớt lên"

T́nh yêu say đắm, lăng mạn, chân t́nh:

"Sóng trào như nước lũ

Vọng tiếng ngàn xưa, tiếng sóng ngàn năm"

Nhưng rồi như sực tỉnh, chàng không thể v́ t́nh yêu mà quên đi bổn phận ḿnh đối với xứ sở quê hương và truyền thống dân tộc. C̣n nàng, "Nàng đến từ Makak" không thể lập gia đ́nh với một người không cùng tôn giáo, dù đó là vị hoàng tử.

Nàng trở về xứ Makak:

"Lênh đênh trôi dạt bến bờ

Trôi tít mù khơi, vào ḷng biển cả".

Chàng ở lại, nhưng "t́nh anh trôi dạt nơi nào...".

"Ta c̣n chi nữa trong tay

Chỉ là con chim, bay vào vô tận..."

Cuộc t́nh dang dở "theo vào Parik (Phan Rí), t́nh lại Aia Trang". Chuyện t́nh buồn lăng mạn, nhưng là chuyện t́nh đẹp "t́nh măi lưu danh, t́nh vào thiên cổ" trong văn học Champa; c̣n măi với sông nước Kauthara, với con người Aia Trang, từ đó đến ngày nay, thiên thu bất tận.

AIA TRANG nồng nhiệt đam mê, mộng mơ t́nh tứ với nét buồn lăng mạn như điệu Nam Ai, Nam B́nh, vương vấn âm hưởng Indrapura lâu đời. KAUTHARA thánh địa u huyền thời huyền sử như ca khúc Chiêm Thành Nọ, Ni, Nê, âm điệu từng đoạn mấy trăm năm sau rơi rớt nhẹ nhàng trong ca khúc Long Ngâm cổ nhạc Huế. Tất cả, c̣n lại "lẫn trong đồi cát, lẫn vào cỏ cây", di hương vang vọng. Bao nhiêu thế hệ chan hoà, người Việt Đàng Trong, người Việt di dân cũ, di dân mới.

Người Việt Champa cội nguồn từ thuở Chiêm Thành Vương Campapura c̣n lại tại Khánh Hoà-Nha Trang ngày nay không nhiều, nếu không nói là không có hay ít quá so với đồng hương ở Sông Pha, Cà Đú, Phan Rang, Phan Rí hay Mũi Né, Sông Mao, Tịnh Mỹ (Bal Pandarang), Phan Thiết (Malithit)...

Không c̣n tại nơi "chân trời xa vời vợi", "một cánh chim thu lạc cuối ngàn"; nhưng c̣n đó dấu tích sông nước hữu t́nh, mặn mà thắm thiết. C̣n đó h́nh bóng lưu lăng, nét mơ hồ xa xăm nh́n thấy rơ trong ánh mắt long lanh t́nh tứ, trong nụ cười duyên kín đáo cô thôn nữ bên "cánh đồng vàng nhuộm nắng chiều tươi". Và c̣n đó, cả những thôn xóm đ́u hiu trầm lặng ở Đồng Hộ, Đồng Găng, Đồng Dài xa xưa, lấp lửng thướt tha theo chiều gió:

"Những thôn nữ mơ màng trong tiếng sáo

Cùng nhịp nhàng, uyển chuyển cuốn ḿnh hoa"

Hết rồi, "cả một thời xưa tan tác đổ", nhưng c̣n đó cảnh vật thiên nhiên! C̣n đó Khánh Hoà-Nha Trang với sức mời gọi quyến rũ lạ thường. Khách phương xa dừng chân ngắm cảnh, ngắm t́nh. Tưởng một đôi ngày, ngờ đâu đến nơi rồi ở lại lâu năm, rồi định cư măi măi. Ngày xưa quán trọ bên đường; lữ quán lâu năm trở thành quê quán, như câu ca dao địa phương c̣n lưu luyến đến ngày nay:

Đến đây hăy ở lại đây

Bao giờ củi mục thành cây rồi về...

"Thành cây" là chuyện thường hay chuyện đă rồi đối với dân ngụ cư lâu đời ở Nha Trang. Huyền thoại Nha Trang-Khánh Hoà c̣n ghi dấu gỗ mục thành trầm hương, thành cây gió, cây Ḱ Nam như cổ tích đền thờ Thiên-Y-A-Na tại xă Đại Điền.

Nàng tiên hoá thân vào cây gỗ già nam hương thơm nồng thắm, trôi theo ḍng nước... gặp hoàng tử phương Nam kết đôi vợ chồng. Nhưng duyên nợ trần gian "có thế thôi". Người tiên trở về cơi tiên, để lại trần gian Khánh Hoà-Nha Trang trầm hương d́u dặt linh ứng, quyến rũ khách phương xa từ đó đến nay: "đến đây th́ ở lại đây".

Như chuyện thần thoại Thiên-Y-A-Na, cô tiên nữ sống đời trần gian. Cô gái đồng quê một ngày đẹp trời bỗng nhiên làm cô thiếu nữ thị thành, khi Khánh Hoà-Nha Trang khánh thành trường học chữ quốc ngữ đầu tiên năm 1906. Khánh Hoà-Nha Trang huyền ảo thần tiên, lần hồi nhập thế biến đổi...

Thành phố miền thuỳ dương tân lập với Avenue de la Plage (sau này đại lộ Duy Tân), nhà hàng La Frégate, khách sạn Beau Rivage phía trên này, tận cuối đường là Cầu Đá-Chụt. Qua cầu Xóm Bóng (cầu Hà Ra) nh́n xuống sông "nước giữa ḍng bên trong bên đục". Mà thật như vậy, con sông nhẹ nhàng sóng vỗ lung linh hai màu xanh đục. Người địa phương c̣n nói rằng: nước trong xanh uống ngọt, bên kia màu đục uống vô mặn chát như nước muối!

Nha Trang miền cát trắng với những con lộ dài thẳng tắp; đường Yersin từ bờ biển đi tuốt lên Nhà Ga. Đường Độc Lập từ Chợ Đầm chạy song song, buôn bán rộn rịp một đoạn dài ở trên, vắng vẻ lần lần khi chạy tới Nhà Ga, gặp đường Phường Củi.

Có những con đường không dài không ngắn, dễ thương dễ cảm như đường Công Quán rợp bóng cây xanh. Phía trước ngôi biệt thự nhỏ số 10 có hai cây bàng, bên cạnh là rạp Ciné Việt-Quang mấy năm sau trở lại thấy đổi tên Minh-Châu. Gần đó, trường Kim Yến, gần thêm chút nữa trường nữ học của mấy "xơ" ḍng Đức Bà Truyền Giáo, trường Khánh Tâm. Ngày nay nh́n học tṛ lững thững đi về, khách phương xa mến cảnh mến người mấy mươi năm rồi gọi măi không thôi, trường Minh Tâm!

Khánh Hoà-Nha Trang cổ xưa với chùa Kim Sơn, chùa Kỳ Lân, với Lũy Củ Chiêm Thành dân gian thường gọi là Đồn Chiêm. Nha Trang thắng cảnh xinh tươi với sông Ba Ng̣i (Tam Độc) với đầm Ô-Rô, khe Ồ-Ồ, với chợ Dinh, chợ Nại (Nại Tân), với nhà thờ Núi, những giáo hữu âm thầm dấn thân nhập cuộc "đi đạo" giúp đời... Tất cả đă tạo nên cơ duyên dồn dập phát sinh nguồn cảm hứng viết về "Địa Phận Nha Trang".

Bài Phóng Sự đăng trên Nguyệt San Văn Hoá, số 86, Saigon, tháng 10 năm 1963.

Tháng này, năm này, đầu thiên niên kỷ mới, Khánh Hoà-Nha Trang kỷ niệm 170 năm thành lập.

Và cũng là kỷ niệm 95 năm Khánh Hoà-Nha Trang lần đầu tiên năm 1906, nhất luật khai giảng cùng một ngày 24 trường tổng và một trường Kiểu Mẫu dạy chữ Quốc Ngữ tại thị xă.

Cùng một lúc hai ba niên đại quan trọng Khánh Hoà-Nha Trang đă trải qua, nhân dịp này tác giả cho đăng lại "Địa Phận Nha Trang", theo bản văn năm 1963 không sửa đổi, ngoại trừ những chú thích thông tin thấy cần thiết. Cập nhật hoá bài viết dễ đọc hơn, người viết đă kiểm điểm, đối chiếu thêm những tư liệu mới. T́m gặp nhiều người hiểu biết hơn về Khánh Hoà-Nha Trang, tác giả may mắn gặp lại người quen cũ Trần Đ́nh Hảo, một công chức "cựu trào" quê quán Nha Trang, thổ công thổ địa tại địa phương. Cùng với cuốn sách nhỏ gửi tặng "Lịch Địa Phận Nha Trang năm 1975", nhiều lần nói chuyện qua điện thoại, bạn Trần Đ́nh Hảo đă cung cấp thêm nhiều thông tin về các họ đạo cũ mới rất hữu ích t́m hiểu thêm "Nha Trang Công Giáo" từ năm 1963 đến năm 1975.

Đăng lại "Địa Phận Nha Trang" với nhiều tâm t́nh gắn bó, vui mừng cùng bạn đọc khắp nơi khi nhận được tin Đức Cha F. X. Nguyễn Văn Thuận, nguyên Giám Mục Địa Phận Nha Trang từ năm 1967-1975 vừa được Toà Thánh Vatican tấn phong Hồng Y, vinh dự lớn lao đến với Giáo Hội và quê hương Việt nam.

Saigon 1963. Nhờ Tạp Chí Văn Hoá Nguyệt San, từ Quảng Trị-Đông Hà đến Bạc Liêu-Cà Mau, "Địa Phận Nha Trang" đến với bạn đọc khắp nơi; một số đông độc giả ngày xa xưa ấy vẫn ham đọc và thích thú t́m đọc. Rất nhiều độc giả thời ấy am hiểu địa dư mỗi địa phương cũng như lịch sử các vùng đất hay những nhân vật ít nhiều để lại dấu tích lịch sử trên làng xă cố hương ḿnh. Qua vài thông tin ngắn ngủi, những mẩu chuyện địa dư- lịch sử đơn sơ trên báo, có khi những phóng sự rộn ràng xao động thoáng qua, tưởng chừng như mọi người đang cùng thắc mắc, cùng chung nhu cầu t́m hiểu hiện t́nh đất nước trong một giai đoạn đang chờ đợi biến động dự đoán sẽ xảy ra!

Cũng với tâm tư ước vọng bừng sáng ấy, lần này "Địa Phận Nha Trang" trở lại với độc giả người Việt tha hương trên dưới một phần tư thế kỷ: 1975-2001, những năm tháng ngậm ngùi xa quê nhớ nước.

Địa Phận Huế, Địa Phận Quy Nhơn, rồi Địa Phận Nha Trang, Địa Phận Saigon, tác giả và độc giả thuỷ chung vẫn là một, một tấm ḷng, một t́nh yêu nồng thắm, đất nước và con người. Sẽ không có người viết nếu không có người đọc, độc giả ngày nay cũng như thời trước. Khác nhau qua thời gian và không gian, tác giả và độc giả trước năm 1975 hay ngày nay, năm 2001 trên đất nước người, đam mê nhiệt t́nh học hỏi và t́m hiểu những vấn đề Việt Nam, hiện tại và tương lai. Đó cũng là thêm một lư do "Địa Phận Nha Trang" không mới, không cũ đến với bạn đọc hôm nay.

Giáo Phận Nha Trang

Gặp lại Đức Giám Mục R. Marcel Piquet trong một ngày vui của địa phận, tuy là du khách chúng tôi không khỏi cùng với giáo hữu Nha Trang chung lời cầu nguyện, chung niềm yêu thương trong buổi lễ mừng năm mươi năm linh mục của vị Giám Mục tiên khởi địa phận. So với các địa phận khác như Huế, Saigon, Quy Nhơn, Kontum... địa phận Nha Trang tương đối mới mẻ. Mới, nhưng người cai quản địa phận, Đức Cha R. Marcel Piquet lại không phải là người xa lạ đối với giáo hữu các tỉnh miền Nam duyên hải Trung Phần.

Sinh năm 1888 tại Ba-Lê, chịu chức linh mục năm 1912 xong, Đức Cha Piquet sang giảng đạo ở Quy Nhơn và lấy tên Việt Nam, Cố Lợi. Bắt đầu học Việt Ngữ tại Hội Đức, làm cha sở ở Đồng Quả (B́nh Định), một thời gian sau linh mục Piquet đổi về làm giáo sư tại Đại Chủng Viện Đại An.

Rời Đại Chủng Viện, người được bổ nhiệm làm cha sở Dinh Thuỷ, rồi Hộ Diêm, Rừng Lai (Phan Rang)... Được cử làm cha chính địa phận năm 1941, một năm sau làm Bề Trên địa phận Quy Nhơn cho đến năm 1943 được tấn phong Giám Mục thay thế Đức Cha Tardieu, trong buổi lễ long trọng cử hành tại nhà thờ Chánh Toà Quy Nhơn ngày 18/01/1944.

Tháng 7 năm 1957, địa phận Quy Nhơn phân chia làm hai và Đức Cha R. Marcel Piquet trở thành vị Giám Mục địa phận Nha Trang. Tính đến năm 1963, ngài đă ở Việt Nam 51 năm. Ghi công một vị giáo sĩ đă sống và làm việc ở Việt Nam trên hơn nửa thế kỷ, trong ngày lễ Kim Khánh Đức Cha hôm ấy, ngày 07/8/1962, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ân tặng vị chủ chiên địa phận Nha Trang Chương Mỹ Bội Tinh hạng nhất.

Kể từ ngày chúa Nguyễn Hoàng sai phó tướng Văn Phong vượt đèo Cù Mông chiếm đóng Phú Yên, cuộc Nam Tiến của các chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan... mỗi ngày một đi xa về phương Nam.

Biên giới Đàng Trong Đại Việt nối dài đến tận Mũi Nạy (Cap Verella) trong lúc lănh thổ Champa thu hẹp lần với hai tiểu vương quốc Kauthara và Panduranga.

Đến lượt thánh địa Kathaura rơi vào tay chúa Nguyễn trở thành dinh Thái Khương và Diên Khánh - tỉnh Khánh Hoà sau này - lănh thổ cuối cùng c̣n lại của Champa là tiểu vương quốc Panduranga.

Cuộc Nam Tiến vẫn chưa ngưng nghỉ. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu tiến chiếm Phan Rang - Phan Rí; Paduranga của Chiêm Thành từ nay gọi là trấn Thuận Thành, phủ B́nh Thuận.

Khởi đi từ căn cứ Thuận - Quảng, các chúa Nguyễn Đàng Trong đă nới rộng biên giới đến Phan Thiết. Phần đất Nam Tiến này kể từ năm 1844 trở thành địa phận Quy Nhơn; và từ địa phận Quy Nhơn khai sinh địa phận mới Nha Trang bao gồm lănh thổ hai tiểu vương quốc Kathaura - Paduranga trở thành phần đất Việt Nam gọi là Nha Trang (Khánh Hoà), Phan Rang (Ninh Thuận) và Phan Thiết (B́nh Thuận).

Địa phận mới trên vùng đất mới với nhiều triển vọng mới, hiện tại và tương lai.

Địa phận mới Nha Trang, kể từ ngày 22/7/1957, gồm một phần đất cũ thuộc địa phận Quy Nhơn từ Đèo Cả đến Cà Ná và một phần đất trước kia thuộc địa phận Saigon nay sáp nhập vào địa phận Nha Trang, từ Cà Ná đến hết biên giới B́nh Tuy.

Nằm dọc theo duyên hải miền Nam Trung Phần, đi từ các tỉnh Khánh Hoà (Nha Trang), Ninh Thuận (Phan Rang) đến B́nh Thuận (Phan Thiết) và B́nh Tuy (Hàm Tân) địa phận bao gồm một diện tích trên dưới 20,000 cây số vuông với dân số gần 769,000 người, trong đó có 101,300 người Công Giáo. Địa phận Nha trang có 139 họ đạo do 116 linh mục trông coi, không kể các linh mục Ḍng, trong đó phải kể 5 linh mục ḍng Mỹ Ca, 7 linh mục ḍng thánh Phanxico và 11 linh mục ḍng Chúa Cứu Thế. Kể từ ngày thành lập đến nay, địa phận Nha Trang có thêm 36 tân linh mục.

Địa danh Nha Trang, qua sử liệu Việt Nam như Đại Nam Nhất Thống Trí, đến nay c̣n chưa được giải thích rơ ràng. Chỉ thấy lờ mờ ghi lại trang này, trang kia một vài hàng ngắn ngủi như: "Thành Diên Khánh trước là thủ sở Nha trang", vũng Nha Trang, nguồn Nha Trang, cửa tấn Nha Trang...

Về phương diện hành chính, trước năm 1945, Nha Trang gồm nhiều đơn vị gọi là Phường, đặt tên theo thứ tự Phường Đệ Nhất, Phường Đệ Nh́... (1 er quatier, 2 er quatier...). Vùng ngoại ô Nha Trang gồm có Nha Trang Đông (chợ Đầm), Nha Trang Tây, Phường Sài, Phường Củi, Trường Đông, Trường Tây...

Ngoài hai địa hạt hành chính biệt lập là tỉnh Khánh Hoà và thị xă Nha Trang, Nha trang c̣n có hai cơ quan hành chính đặc biệt gọi là Đại Lư (Délégation) như Délégation de Ba Ng̣i và Délegation de Suối Dầu do một viên chức người Việt điều khiển gọi là Bang Tá..

Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Khánh Hoà gồm các quận Vạn Ninh, Ninh Hoà, Vĩnh Xương, Diên Khánh và Cam Lâm.

Khánh Hoà-Nha Trang, đất trầm hương bà chúa xứ Ponagar với nhiều kư ức, kỷ niệm lâu ngày c̣n đó, mất đó. Hơn đâu cả, nơi vùng đất "muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi" (thơ Chế Lan Viên, vật đổi sao rời là chuyện thường t́nh:

Mưa Đồng Kè, gió Tu Bông

Cọp Ổ Gà, ma Đồng Lớn

Núi Đồng Kè hay núi Phú Mỹ ở Ninh Hoà. Núi cao, cao lắm, chọc trời, quanh năm mây mù bao phủ v́ vậy thường có mưa, mưa Đồng Kè!

Tu Bông gần núi Tô Hà, cũng gọi là núi Hoa Sen, bốn bề gió lộng từ những đồi cát xa xa. Mùa gió Nam, Tu Bông cát bụi mịt mù c̣n hơn Chợ Săi Quảng Trị mùa gió Lào. Con nít ở đây thường bị đỏ mắt; gọi gió Tu Bông là v́ vậy!

Núi Phú Như, tục danh núi Ổ Gà, cây cối um tùm rậm rạp, rừng xanh núi đỏ xa xưa cọp beo nhiều lắm; thợ săn, thợ rừng c̣n phải tránh xa "ông ba mươi". Núi Ổ Gà c̣n đó, nhưng cọp Ổ Gà hết rồi; (...)

Ma Đồng Lớn (hay Đại Đồng) cũng vậy! Vùng núi Đại Đồng tại quận Ninh Hoà ngày xa xưa là vị trí bản lề chiến lược từ Bắc vô Nam hay ngược lại. Với hai ngọn đèo, đèo Eo và đèo Bánh Ít (đèo Thanh Hà), khu vực Đại Đồng tự nhiên trở thành băi chiến trường ác liệt Việt - Chiêm, tiếp đến giữa hai quân đội hai nhà Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Chiến trận nhiều, tử thương nhiều. Hồn xiêu phách lạc, hồn ma bóng quế nhiều, oan hồn hiện khắp nơi. Núi non rừng rậm như Đồng Lớn c̣n nhiều hơn; chuyện mấy trăm năm cũ sau này c̣n ghi lại trong sử sách, phổ biến qua dân gian truyền khẩu: "ma Đồng Lớn".

Kể về số lượng giáo hữu, trong bốn tỉnh thuộc địa phận, quan trọng hơn cả Khánh Hoà-Nha Trang: 37,754 người quây quần trong 62 họ đạo. Nha Trang quan trọng v́ nơi đây có Toà Giám Mục, có các ḍng tu như ḍng Phanxico, ḍng Chúa Cứu Thế, ḍng Mỹ Ca; các cơ sở văn hoá, xă hội Công Giáo địa phận phần lớn quy hợp nơi đây.

Khung cảnh trầm lặng tự nhiên và khí hậu hiền hoà của Nha Trang là một trong những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển hoạt động tông đồ. Ḷng mộ đạo và sức người đă chiến thắng được những cản trở khó khăn bên ngoài để hành đạo và sống đạo. Ngôi nhà thờ của thị xă Nha Trang làm toàn bằng đá là một bằng chứng của ḷng sùng đạo cao cả ấy.

Nhà Thờ Núi Nha Trang, một trong những kiến trúc đại quy mô của địa phương, nay là nhà thờ chánh toà, cách đây gần 40 năm là công tŕnh xây dựng của linh mục họ đạo Chợ Mới, cha Vallet.

Năm 1929, Nha Trang c̣n là xóm đạo nghèo nàn với số giáo dân thưa thớt không quá 300 người. Tuy nằm trong thị xă, nhưng Nha Trang lại là họ nhánh thuộc giáo xứ Chợ Mới. Ngày Chúa Nhật, cha sở Chợ Mới lên Nha Trang làm lễ tại ngôi nhà hiện nay là trụ sở Toà Giám Mục. Nha Trang lúc bấy giờ trên phương diện kiến thiết cũng chưa có ǵ đáng kể ngoài khu chợ với vài dăy phố buôn bán và một số biệt thự của Pháp cất dọc theo băi biển.

Nha Trang nhớ lại thời xa xưa ấy chưa có Chợ Đầm, chợ Nha Trang, Nhà Thờ Núi.

Ngôi thánh đường đầu tiên chưa được to lớn bề thế lắm là nhàthờ Chợ Mới, sau này trở thành giáo xứ Chợ Mới, bổn đạo đông đúc lên đến con số 1,500 người. Ảnh hưởng lâu dài vang xa bên kia sông Cái với hai họ nhánh trù mật khang cát. Họ Phù Sa (xă Xuân Long) và họ G̣ Dê (làng Ngọc Hội) thuộc thế hệ Nha Trang Công Giáo cựu thời, cựu tích.

Gọi Chợ Mới v́ theo dân gian truyền tụng, đầu tiên hết và chưa có chi hết, chỉ có độc nhất cái chợ mới xây cất tại đây. Chợ mới thành lập nên gọi là Chợ Mới. Sự tích nôm na giản dị như bản tính con người Nha Trang b́nh dị chất phác, thành thật và cởi mở.

Nhà thờ Chợ Mới toạ lạc tại làng Ngọc Hội, riêng chợ (mới) tại làng Vĩnh Điềm. hai làng Ngọc Hội - Vĩnh Điềm cách nhau một cây cầu làm ranh giới giữa hai làng, cầu Bà Vệ. Bên này cầu Vĩnh Điềm, qua khỏi cầu mấy bước, làng Ngọc Hội là xóm đạo sơ khai, hằng ngày quen thuộc với h́nh bóng vị linh mục nhân đức khả kính, cha Vallet.

Chợ Mới Công Giáo truyền thống, cách đây một thế kỷ là giáo xứ đă để lại dấu tích tôn kính tử đạo Việt Nam, vào những năm sau cùng triều đại Tự Đức (1858-1862).

Cùng chung một mộ huyệt các đấng tử đạo Chợ Mới! Sau ngày b́nh yên trở lại, bảy quan tài tử thi các vị tuẫn đạo chôn sấp chôn ngửa các nơi trong thời gian gọi là "sát tả" được đưa về nhà thờ Chợ Mới cải táng chung. Nhục thể các ngài an nghỉ dưới nấm mồ chung có cây thánh giá đơn sơ bằng gỗ ghi dấu một giai đoạn đau thương bất hạnh trên quê hương trần gian. Trong các đấng tử đạo, giáo xứ Chợ Mới được vinh dự hiển dương hai chứng nhân của Đức Tin: chú Giuse Hữu và chị Anê Dần.

Giuse Phaolô Trần Hữu sinh ngày 27 tháng 12 năm Đinh Dậu (1837) tại Ngọc Toản; năm 1853, theo giúp linh mục Thới tại Phan Rang, chú Hữu bị bắt giam sau đó cùng với thân phụ và một số giáo hữu, cuối cùng bị hành quyết tại Sông Cạn, làng Phước Thịnh năm 1860.

Chị Anê (Agnes) Dần, họ đạo B́nh Cang, gia nhập ḍng Mến Thánh Giá đang tuổi thiếu niên, 16-17 tuổi. Không đầy hai năm Anê Dần bị bắt cùng song thân. Không chịu nổi cực h́nh tra tấn, nữ tập tu ḍng Mến Thánh Giá Anê Dần qua đời trong ngục thất trước khi nhận được bản án tử h́nh.

Chị Anê Dần chết rũ tù tại ngục thất Khánh Hoà.

Chú Giuse Hữu bị trảm quyết tại Sông Cạn, xă Phước Thịnh.

Sông Cạn thuộc địa phận Cam Ranh-Ba Ng̣i, theo Đại Nam Nhất Thống Trí, tỉnh Khánh Hoà, "không có đầu nguồn, chỉ theo thuỷ triều lên xuống, nước cao chừng một thước, hành khách lội qua được nên có tên gọi như thế".

Sông Cạn v́ Thiên Chúa, v́ Tổ Quốc, đạo đời cùng một niềm tin, cùng chung dấn thân phụng sự.

Sông Cạn, cũng ḍng sông oan nghiệt này, gần nửa thế kỷ sau, năm 1908, bên cầu Phước Thịnh, đă chứng kiến thêm cuộc hành quyết nhà chí sĩ cách mạng, giáo thọ phủ Ninh Hoà, tiến sĩ Trần Quư Cáp.

Xúc động v́ cái chết bi hùng bên ḍng Sông Cạn, cụ Huỳnh Thúc Kháng có bài thơ chữ Hán khóc bạn:

"Bồng đảo xuân phong huyền viễn mộng

Nha Trang thu khảo khấp anh hồn..."

... "Bồng đảo gió thu đưa chờ giấc mộng

Nha Trang cây cỏ (đă) khóc hồn thiêng...".

Trở lại với kư ức cha sở họ Chợ Mới Nha Trang, cách đây gần nửa thế kỷ. Việc đầu tiên của linh mục Vallet khi được cử làm cha sở Nha Trang là t́m đất cất nhà thờ. Địa điểm này không đâu đẹp hơn là ngọn đồi con ở hướng Tây thành phố. Chỉ công việc ban đất, lát đá tạm con đường để xe cộ có thể chuyên chở vật liệu từ dưới lên đỉnh đồi cũng đă phải kéo dài mấy năm. Xong đợt công tác này, đến năm 1932 mới thật sự bắt đầu công việc xây cất nhà thờ. T́m đâu ra tiền với số giáo hữu quá ít ỏi. Ngoài năm ba người công chức, tất cả đều là công nhân, nông dân hay làm nghề chài lưới nghèo khổ!

Nhưng rồi cũng xong xuôi nhờ sự khôn khéo vận động của cha Vallet và sự hợp tác tông đồ của giáo hữu các nơi. Từ khi khởi công, tháng 02 năm 1929 đến sau lễ Phục Sinh năm 1933, nhà thờ "Núi" được Đức Giám Mục Grangeon (Đức Cha Mẫu) làm phép và đặt tên "Chúa Giêsu là Vua" làm bổn mạng ngôi thánh đường. Hơn một năm sau, nhà thờ Núi có thêm hai chuông lớn và đồng hồ c̣n lại cho đến ngày nay.

Từ khởi điểm Chợ Mới, đến đây cùng với khách phương xa thử t́m lại bóng hoài cảm Nha Trang Công Giáo qua dặm dài kư ức.

Qua khỏi Suối Dầu, đi xa hơn về hướng Tây vùng cận sơn, địa sở Đồng Hộ. Dọc theo Đường Cái Quan, một xóm đạo trước năm 1945 là họ nhánh của giáo xứ B́nh Cang, ngày nay phát triển phồn thịnh vững vàng, họ đạo Hoà Tân.

T́m đường đi B́nh Cang, từ Nha Trang đến Diên Khánh theo Quốc Lộ I, c̣n cách thành chừng ba, bốn cây số, rẽ phía trái du khách sẽ dừng lại "giáo đường im bóng", nhà thờ Cầu Ké, họ đạo Cầu Ké. Cũng trên đường lục lộ thênh thang này, rảo bước thêm một đoạn ngắn nữa, rẽ tay mặt, từ xa nh́n thấy rơ cánh đồng mênh mông. Xă Vơ Cạnh, quận Vĩnh Xương đây rồi, không c̣n sợ lạc đường lạc hướng nữa!

Vơ Cạnh-Kauthara: dù quê quán Nha Trang hay không, dù đă qua đây một lần hay chưa nhưng đến đây rồi xin hăy dừng lại đây. Vơ Cạnh, làng Vơ Cạnh, quận Vĩnh Xương, nơi ghi dấu lịch sử LinYi-Champa qua tấm bia khắc bằng Phạn ngữ (Sanscrit). Bia bằng đá hoa, cổ vật không ghi năm tháng khai dựng, nhưng qua nội dung bản văn, các nhà khảo cổ biết chắc rằng tấm bia có từ xa xưa lâu đời, hồi chưa có bóng dáng người Việt trên nửa phần đất bán đảo Đông Dương này. Cũng có thể, từ đầu thế kỷ thứ ba hay sớm hơn, từ thời đại vương quốc Champa đầu tiên Cri-Màra; K'iu Liên theo phiên âm tiếng Tàu, hay Khu Liên qua tài liệu Hán Việt.

Bia đá Vơ Cạnh ghi dấu vương quốc Champa chịu ảnh hưởng sâu đậm văn minh Ấn Độ Giáo và văn hoá Phạn ngữ. Kauthara-Vơ Cạnh, vùng trời đất mỹ lệ, thiên nhiên ở đây đẹp vô cùng. Từ cảm nhận cái đẹp, tôn trọng cái đẹp thiên nhiên, con người tôn thờ thiên nhiên như Đấng thiêng liêng. Thiên nhiên trở thành đạo, con đường t́m đến cứu cánh chân lư sau cùng.

Từ Vơ Cạnh-Kauthara buổi sơ khai, mười mấy thế kỷ sau khi cuộc Nam Tiến càng lâu càng bám chặt gốc rễ, đến lượt Vơ Cạnh-Khánh Hoà chung hoà điệu sống an nhiên đạo vị trong cộng đồng chung, đất nước Việt Nam.

Như ḍng sinh hoá sinh tụ tự nhiên, từ Vơ Cạnh-Champa đến Vơ Cạnh-Vĩnh Xương vĩnh an vĩnh tồn, bằng tâm t́nh cảm nhận, con người t́m về ánh sáng Phúc Âm. Cũng như người "đi đạo" thời trước, các thế hệ hậu bối t́m về Đạo, sống với Đạo bằng con tim, bằng Đức Tin trước khi bằng khối óc: "đạo bất viễn nhân".

Cũng như Vơ Cạnh liên lư liên chi Phú Vinh nằm về hướng Đông, cả hai cùng bám chặt về sông núi quê hương, cái đạo tự tâm ấy đă gắn bó con người Nha Trang-Khánh Hoà bất cứ nơi đâu, G̣ Dê, G̣ Dừa, Cây Vông, Chợ Mới, B́nh Cang...

Một ḿnh một cơi giữa đồng rộng c̣ bay thẳng cánh, nhà thờ B́nh Cang với cây thánh giá đang toả rộng trời đất non nước xứ trầm hương.

Là một giáo xứ lâu đời, nhắc đến B́nh Cang không thể quên được vị cha xứ đă chung sống với bổn đạo hơn một phần tư thế kỷ và mất tại đây, linh mục Ernest Carrigues.

Ngày xa xưa không lâu Vơ Cạnh là một vùng đất hoang vắng, dân cư thưa thớt; c̣n nói chi họ đạo B́nh Cang tân lập sau này. Nhiệt tâm, nhiệt thành, cùng chung ước nguyện, kẻ chăn chiên và đàn chiên lần hồi đă biến cải B́nh Cang thành giáo xứ phồn thịnh với ngôi thánh đường trang nghiêm. Bên cạnh nhà thờ, trường học B́nh Cang mỗi năm thêm lớp, thêm học sinh và ông "giáo làng" không ai khác hơn là vị linh mục nổi tiếng thông thái, cha sở Ernest Carrigues.

B́nh Cang vận hội mới c̣n gặp duyên lành đón tiếp ḍng Mến Thánh Giá. Phát sinh từ G̣ Thị (Quy Nhơn), nhập tịch địa phận Nha Trang, các nữ tu từ đây mang tên họ mới, ḍng Mến Thánh Giá B́nh Cang. Quen thuộc với bà con địa phương qua bộ đồng phục màu đen, các nữ tu B́nh Cang mặc áo dài cắt may hơi đặc biệt, thân áo và tay áo rộng khác với các nữ tu ḍng Khiết Tâm sau này, đồng phục màu xanh nước biển.

Vừa tận hiến công đức tu tŕ đạo hạnh, vừa lo việc xă hội và giáo dục con em trong ngoài giáo xứ, hoa trái đầu mùa các nữ tu ḍng Mến Thánh Giá B́nh Cang vừa được gặt hái là hơn 50 thiếu nữ dự tu và tập tu khấn hứa dâng trọn đời ḿnh v́ Thiên Chúa, v́ tha nhân.

Trở lại ga Phú Vĩnh xuôi Nam theo Quốc Lộ I, qua khỏi Cửa Đông, cửa Tây thành Diên Khánh chừng cây số, đạo đời chung một, vui vẻ hiền hoà là giáo xứ Hà Dừa. Xa xa, bên kia con sông đ̣ ngang hàng ngày nặng trĩu ân t́nh ân nghĩa, bổn đạo giáo xứ Cây Vông thuộc xă Đại Điền Tây tiếp liền với Đại Điền Đông.

C̣n muốn tiếp tục đi nữa, qua khỏi Phú Cốc, bên kia sông là giáo xứ Đồng Dài trước nay có hai họ nhánh, họ Đất Sét chạy dài theo ven núi miền cận sơn Đồng Ḅ và họ Śnh thuộc xă Cư Thịnh.

Lần theo dấu tích của họ đạo lâu đời đến tận Ba Ng̣i-Cam Lâm; đến đây ngược chiều Quốc Lộ I, trở lại hướng Bắc đi t́m h́nh bóng xa xưa các giáo xứ Vạn Giă, Ninh Hoà, tạm kết thúc đoạn dài Nha Trang Công Giáo từ Nam ra Bắc.

Khoảnh đất hơi cao, không cao lắm như đồi, gọi là G̣. Đi lần vô Nam, miền Đông miền Tây Nam Việt gọi là "Giồng". Địa thế Khánh Hoà-Ninh Hoà nổi tiếng nhiều núi, nhiều đèo cheo leo, đ̣ đống trèo trượt ngổn ngang c̣n nhiều hơn: g̣ Thạch (lũy), g̣ Dê, g̣ Dừa...

Gắn bó nhiều kỷ niệm tôn giáo là G̣ Muồng, một trong những giáo xứ lâu đời bên Sông Cạn cách quận lỵ Ninh Hoà chừng 3 cây số.

Qua gần hết một ṿng giao thoa tiếp cận các họ đạo Khánh Hoà-Nha Trang trước năm 1930-1931, đến đây tạm dừng chân tại Nhà Thờ Chánh Toà, nh́n lại những đổi thay thay đổi đô thị Nha Trang hai thập niên qua, từ đó nhận định rơ nét hơn sự tiến triển bên ngoài của Nha Trang Công Giáo và địa phận nhà nói chung.

Chỉ nh́n riêng con đường Duy Tân chạy dài theo băi biển Nha Trang cũng đủ thấy rơ sự tiến triển của hoạt động Công Giáo ở đây. Khách sạn "Beau Rivage" một thời có tiếng là sang trọng và đông khách, ngày nay là Tu Viện Ḍng Chúa Cứu Thế. Mới được thiết lập thêm ở Nha Trang từ năm 1954-1955, Ḍng hiện có 11 tu sĩ và hơn 60 chủng sinh. Ngoài phạm vi phụng vụ và giảng dạy thông thường, hoạt động của Ḍng c̣n lan tràn đến các mục tiêu xă hội, văn hoá. các buổi nói chuyện, diễn thuyết công cộng của các linh mục ḍng Chúa Cứu Thế đă thành tập tục quen thuộc với dân chúng Nha Trang lâu nay.

Con đường băi biển đẹp nhất của Nha Trang không những chỉ có tu viện ḍng Chúa Cứu Thế, mà c̣n có Toà Giám Mục, biệt thự Cuénot là nhà dưỡng lăo linh mục và trường Trung Học Bá Ninh của ḍng Sư Huynh, tấp nập với trên hai ngàn học sinh trung học.

Rời khỏi thị xă qua bên kia cầu Hà Ra, dọc Quốc Lộ là nhà Tập ḍng Sư Huynh La San, Tu viện Phanxicô, nhà Nữ Tu Kín vừa khánh thành hồi tháng 9 năm 1961, Tiểu Chủng Viện Sao Biển thành lập năm 1958 với 150 chủng sinh.

Nhà Tập ḍng Sư Huynh La San và tu viện Phanxicô cùng nằm chung trên ngọn đồi cao, cùng chung một địa thế ngoạn mục. Từ tu viện ḍng Phanxicô, phóng tầm mắt nh́n xa có thể thấy cả thành phố.

Xứng đáng với truyền thống đạo đức xa xưa, tu viện ḍng Phanxicô vẫn thường đón nhận trong những dịp cấm pḥng từng đoàn người từ xa tới. Có đến đây sống những giờ tĩnh tâm thiêng liêng mới thấy rơ cái an nhiên sâu lắng đẹp của tâm hồn. Ở đây ngăn cách với cuộc sống rộn rịp bên ngoài, nhưng ngăn cách mà không phân ly đoạn tuyệt, trái lại vẫn gần gũi chung hoà. Th́ ra cái "thiên địa chi tâm" của Dịch Kinh đă đồng hoà cùng với tinh thần yêu thương hoan lạc của Đạo Công Giáo. Ngoài kia, dù cho cuộc sống có đổi thay và xă hội có phân tán, con người ở đây đă t́m thấy sự b́nh an trong tâm hồn và t́nh hợp nhất trong ư nghĩ hướng thượng.

Trong lư tưởng đạo đức ấy, năm 1929, một linh mục ḍng Phanxicô, cha Maurice Bertin đă đến đây khơi thêm nguồn sống đạo. Là linh mục thuộc thế hệ khai sơn phá thạch của ḍng Phanxicô ở Việt Nam, sau khi xây dựng xong cơ sở ở Vinh và Thanh Hoá, cha Bertin đến Nha Trang bắt đầu công việc làm nhà thờ cùng với các cha Hugolin Lemestre, André Durand và Léonard Ramon. Đó là vào khoảng tháng 6 năm 1938. Gần hai năm sau, tháng 7 năm 1940, tu viện Phanxicô hoàn tất.

Qua bao nhiêu năm tháng thăng trầm v́ chứng biến, v́ chiến tranh tàn phá hận thù, cuối cùng ḍng Phanxicô đă không tàn tạ v́ ngọn lửa vô thần, trái lại c̣n ghi thêm công nghiệp tông đồ của ḿnh trong việc đem hơn 10 làng rải rác xung quanh tu viện trở lại đạo. Họ Cù Lao hiện nay với trên 1,500 tân ṭng và trường tiểu học mấy lớp là công lao truyền giáo gần đây của các cha ḍng Phanxicô.

Nói đến tu viện Phanxicô Nha Trang không thể không nói thêm các công nghiệp tông đồ khác các cha ḍng Áo Nâu đă thực hiện. Nhà Lạc Thiện dưới chân đèo Rù Ŕ với gần 70 bệnh nhân được chăm lo thường trực và mấy chục trẻ em mồ côi được Nhà Ḍng nuôi dưỡng, chưa kể đến việc khám bệnh, phát thuốc mỗi ngày cho dân chúng trong vùng. Trại cùi Núi Sạn với gần 150 bệnh nhân, trú chứa hơn 10 gia đ́nh vừa có thêm trường tiểu học riêng cho các em con nhà bệnh nhân, không sánh được với trại cùi Bến Sắn, Quy Hoà, nhưng đă góp phần công nghiệp xoa dịu tâm hồn những bệnh nhân bị đời hắt hủi.

Lần theo Quốc Lộ I, qua khỏi Cam Ranh, tiếp đến Du Long (Karom) du khách đang đi lần vào ranh giới Phan Rang (Ninh Thuận) với những địa danh Chàm được Việt Nam hoá từ lâu ngày: Bal Sri Banây (Ninh Chữ), Bal Pandarang (Tịnh Mỹ), Bal Huh (Cù Hũ)...

Nhớ lại gần 3 thế kỷ trước, khi Pan Ran (Phan Rang), Parik (Phan Rí) và Maléthih (Phan Thiết) trong phần đất Chàm c̣n lại gọi là tiểu vương quốc Panduranga dưới ảnh hưởng "bảo hộ" của Đàng Trong, tên mới: trấn Thuận Thành. Chúa Nguyễn phong chức Khâm Lư (chức vị Chiêm Vương có tính cách tượng trưng) cho một nhân vật thuộc hoàng gia Chiêm Thành, Kế Bà Tử (tên viết theo sử liệu Việt Nam; ghi theo sử liệu Champa-Panduranga: Po Saktiraydaputih).

Phủ B́nh Thuận được thành lập trong lănh thổ Panduranga - trấn Thuận Thành - trên danh nghĩa pháp lư là vùng tự trị. Phần đất nhượng địa này được chúa Nguyễn Việt Nam hoá lần hồi: luật lệ, phong tục, cả y phục dân chúng tuần tự sửa đổi như người Việt Nam. Dù muốn dù không, dù được dù thua, cuộc sống chung Chàm-Việt tiếp nối thăng trầm theo các biến chuyển chính trị kéo dài cho đến năm 1832. Sau vụ nổi loạn Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng chấm dứt hẳn danh hiệu Champa-Panduranga từ nay sáp nhập hoàn toàn vào bản đồ Đại Nam Quốc.

Phan Rang trở thành Ninh Thuận; tính cách quan trọng hành chính khi "Phủ" khi "Đạo" thay đổi nhiều lần cho đến năm Thành Thái thứ 13, chính thức trở thành Tỉnh, hợp thức hoá bằng Nghị Định Phủ Toàn Quyền Đông Dương thành lập tỉnh Phan Rang kể từ ngày 20/5/1901. Quản hạt Tỉnh mới gồm có đạo Ninh Thuận, huyện An Phước, huyện Tân Khai và Đại Lư Hành Chính Dalat (Délégation de Dalat).

Hơn mười năm sau, theo Nghị Định Toàn Quyền Albert Sarraut, ngày 09/02/1013, tỉnh Phan Rang đổi thành "Đại Lư" (Délégation de Phan Rang) trực thuộc tỉnh B́nh Thuận.

Phan Rang, đồng ruộng tốt tươi, phố thị trù mật, Phan Rang thuộc địa phận Nha Trang với 15,000 giáo hữu, tấp nập rộn ràng nhất là họ: G̣ Đền, Hộ Diêm, Tân An, Tấn Tài, Phước Đức, Phước Thiện..., có ai ngờ rằng trước đây chỉ là vùng đất cát nóng hổi chói chang và xung quanh núi rừng hoang vắng.

Nhờ công lao của vị linh mục thừa sai, cha Villaume (Cố Đề), hơn 500 mẫu tây đất trước kia hoang vu cằn cỗi, trở thành ph́ nhiêu màu mỡ. Cánh đồng Hộ Diêm mênh mông, bát ngát lúa vàng hiện nay là nhờ đập Đa Trinh, cũng như cánh đồng Dinh Thuỷ nuôi sống mấy trăm gia đ́nh nông dân là nhờ có đập Lâm Cấm.

Họ Đá Hàn, một trong những họ đạo xa xưa của Phan Rang, giáo hữu đầu tiên tất cả đều là những nông dân chất phác từ bốn phương về đây núp bóng cây Thánh Giá. Và chính nhờ Đá Hàn, Phan Rang sau này có thêm họ Phước Thiện sầm uất với trên 2,500 giáo dân. Nơi này cách đây không lâu đă hân hoan đón mừng 200 đồng bào Thượng trở lại đạo, mở đầu cho những tân ṭng khác cũng người Thượng đang dồn dập "trở lại" mỗi ngày một nhiều hơn.

Ngôi nhà thờ đang xây cất tại trung tâm tỉnh lỵ hợp chung với những cơ sở xă hội đă có lâu nay và đang được nuôi dưỡng tô bồi, càng làm tăng thêm vẻ phồn thịnh của một tỉnh Phan Rang nhiều hy vọng tương lai.

Đi hết một ṿng các họ đạo Ninh Thuận, t́m về dấu tích văn hoá Phan Rang không thể không nhắc đến một vị linh mục và cũng là một học giả uyên thâm hiểu biết nhiều về các màu sắc dân Cham-Raglai về đủ mọi phương diện nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá, linh mục Gérard Moussay. Chính vị linh mục lâu năm nhiều tháng gắn bó với công tác tông đồ các sắc dân thiểu số địa phương là người đă thành lập duy tŕ Trung Tâm Văn Hoá Chàm tại Phan rang, một phần gia tài văn hoá quư báu ngày nay c̣n lại với thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ Paris (École Francaise d'Extrême-Orient).

Và B́nh Thuận mà tỉnh lỵ là Phan Thiết, tuy rằng số giáo hữu không đông đảo lắm: 28,255 người trong dân số toàn tỉnh 300,000 người, nhưng nếu nh́n về phẩm chất B́nh Thuận Công Giáo không phải là không có nhiều đặc điểm. Ma Ó, Phan Rí, Tầm Hưng, Long Hương, Kim Ngọc có tiếng là nơi "đạo thạnh" ngày trước, so với ngày nay đă thêm nhiều nét phong vận mỹ nhiều. Thêm vào đó, số giáo hữu di dân lập nghiệp đă đem lại cho Phan Thiết nhiều sắc thái, mới mẻ mà cổ kính, linh hoạt mà âm thầm chan chứa.

Nếu ngày trước, Phan Thiết là quê hương của những hàm hộ, nơi mà "chữ nghĩa văn chương không bằng cái xương cá ṃi" th́ ngày nay cũng ngay tại trung tâm xứ sở của các nhà thờ hàm hộ ấy, một trường trung học Công Giáo, với trên 1,500 học sinh, kiến trúc đồ sộ vào bậc nhất nh́ trong tỉnh, đă làm nổi bật thêm hơn sự tiến triển của thị xă B́nh Thuận.

Giáo dân Giáo Phận Nha Trang

Nét đặc trưng của địa phận là có hơn 90% giáo hữu làm nghề nông hay chài lưới. Từ những giáo xứ xa xưa như Chợ Mới, Hà Dừa, Cây Vông, Hộ Diêm, Diên Thuỷ, đến những địa sở mới thành lập sau ngày có cuộc di cư năm 1954. B́nh Tuy, với các dinh điền Tánh Linh, Vơ Đắt, Vơ Xu... đa số giáo dân nếu không là nông dân chân lấm tay bùn th́ cũng là những người chài lưới nghèo khó đến đây lập nghiệp sinh sống, theo đạo và giữ đạo một cách hồn nhiên, trung thực. Riêng tỉnh B́nh Tuy không, trong số 30,000 người Công Giáo, đồng bào di dân đă có tới trên 20,000 người.

Trước ngày có thêm địa danh B́nh Tuy trên bản đồ hành chính Việt Nam, quận Hàm Tân chỉ vỏn vẹn có một số giáo dân không quá 2,000 người; đông đảo nhất là Tân Mỹ, Cù My. Hai nơi này cách xa nhau gần 25 cây số nhưng chỉ có một linh mục.

Sự việc ngày nay đă đổi khác. Vào trung tâm tuần tháng 3 năm 1955, một đoàn giáo dân gần 400 người quê quán Nghệ tĩnh đến đây định cư lập nghiệp. Thế rồi đất lành chim đậu, các họ đạo mới như Vinh Tân, Vinh Thanh, Thanh Xuân được thành lập, con số giáo hữu từ đó càng ngày càng gia tăng. Các cơ sở phụng vụ, các trường học cũng được thiết lập hay kiến thiết lại, thích hợp hơn với nhu cầu mới của địa phương. Nhà thờ kể đến nay đă hai, ba lần trùng tu hay có nơi xây cất mới. Khởi đầu là những nhà nguyện làm bằng tranh tre, hay lợp "tôn", có nơi chỉ là những mái "tăng" dựng nên. Ngày nay có dịp trở lại B́nh Tuy, du khách sẽ thấy những thánh đường tuy không nguy nga đồ sộ, nhưng thừa vẻ trang trọng mỹ quan, biểu hiện được sự cố gắng, cần cù kiên nhẫn và nhất là ḷng nhiệt thành mộ đạo vốn là bản tính của đồng bào Nghệ Tĩnh xưa nay.

Phong trào di cư tỵ nạn Cộng Sản từ miền Bắc sau Hiệp Định Genève đă đem đến không những hai hạt B́nh Tuy-B́nh Thuận, mà nói chung cả vùng đất Nha Trang nối dài thêm nhiều chất men hội nhập mới, sống đạo và hành đạo vừa sinh động, vừa thầm lặng, nét đẹp thanh hương đặc sắc của địa phương nhà. Những ngày lễ hội tưng bừng, những lần rước kiệu linh đ́nh nối tiếp quanh năm. Các trại tiếp cư, định cư lần hồi trở thành những họ đạo mới, nhiều giáo xứ tân hưng tân lập khắp nơi, núi cao bể rộng, đồng quê đến những vùng đồng chua nước mặn hoang vắng trước đây.

Tại trung tâm thị xă Nha Trang, nổi bật nhất v́ đông đảo giáo dân nhất, hai xóm đạo Phước Hải và Bắc Thành. Thánh đường Phước Hải nằm trên đường Nguyễn Hoàng. Phước Hải thịnh thời thịnh thế, trên dưới 4,000 đồng bào Công Giáo sinh hoạt rộn ràng tạo thành thôn xóm mới, Nhà Thờ Xóm Mới.

Không xa Phước Hải-Xóm Mới, trên đường Lê Thánh Tôn, nhà thờ Bắc Thành. Sáng trưa chiều tối xóm Bắc Thành rộn rịp người đi. Tiếng chuông nhà thờ ngân vang trang trọng vui mừng, giáo hữu hơn 3,000 người chung tiếng cầu kinh, chung lời khấn nguyện, đạo đời kết hợp.

Ngày xa xưa, h́nh như trước năm 1040, sau lưng Xóm Cồn, gần nhà bác sĩ Yersin có xóm đạo nhỏ. Đồng bào di cư hôm sớm đến đây vui vầy sum họp với bà con địa phương, lại thêm sự giúp đỡ săn sóc của các linh mục ḍng Phanxicô, nhà thờ Cây Bông (?) nhỏ bé năm nào ngày nay trở thành xóm đạo mới tưng bừng, giáo xứ Thánh Giá (?).

Từ Xóm Bóng, theo Quốc Lộ I đến gần trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, thêm một họ đạo di cư mới, giáo xứ Ba Làng. Sát bờ biển, hai họ đạo gần gũi nhau, tổng số giáo hữu hai nơi họp lại hơn 4,000 người cùng với đồng bào "bên Lương" họp thành một cộng đồng nhỏ sinh tụ hoà hảo ngày này qua tháng khác, những ai sống ở đây khó mà quên được.

Tiếp tục đi nữa qua khỏi đèo Rù Ŕ là giáo xứ Lương Sơn thuộc địa hạt Lương Sơn xă, làng đánh cá không giàu có sung túc, nhưng cuộc sống dễ dàng thanh thản.

Đi về phía Nam, theo hướng Ba Ng̣i-Cam Ranh du khách ngạc nhiên nh́n thấy hai bên đường nhiều xóm đạo mới. Mới nhưng Đức Tin truyền thống lâu đời, vững vàng hứa hẹn, biểu hiện qua những nhà thờ mới, tường vôi mái ngói đẹp đẽ khang ninh.

Mở đầu hạt Cam Ranh, không xa họ đạo Cửu Lợi (Hoà Tân) là giáo xứ Tân B́nh với hơn 2,000 bổn đạo quê quán Quảng B́nh. Vùng đất hứa chờ đợi đoàn giáo hữu từ phương xa, tân dân tân hữu. Tân B́nh đúng là giáo xứ tân đức tân tâm, b́nh an b́nh dă, b́nh hoà b́nh thuận của địa phận Nha Trang thấm nhuần ơn kêu gọi. Phong trào di dân của những giáo dân Địa Phận Quy Nhơn, Quảng Ngăi, Qui Nhơn, Tuy Hoà tiếm về vùng Cam Ranh, tạo nên những họ đạo mới: Hoà Yên, Hoà Nghĩa,...

Cũng hướng đi Ba Ng̣i, qua khỏi đường ray xe lửa về phía Tây, nhà thờ Đồng Lác, Vĩnh Cẩm, Suối Cát... Thêm một cánh đồng c̣ bay thẳng cánh khác, nh́n bên mặt bên trái, ngó trước ngó sau thấy toàn Lác mọc hoang lâu ngày không ai khai thác.

Qua khỏi xă Thuỷ Triều, đây giáo xứ Xuân Ninh, làng ngư nghiệp do đồng bào di cư tạo dựng bên cạnh những làng đánh cá lâu đời tại Cam Ranh như Thạnh Xương, B́nh Ba.

Hết Xuân Ninh đến xóm đạo Suối Hoà, xa xa bên kia sông họ đạo Mỹ Ca, bao la biển rộng sông dài... Ba Ng̣i, Vinh Trang, Phú Nhơn... Xa xa chút nữa, giữa trời nước mênh mông, ngoài kia mấy ḥn cù lao: Ḥn Tai, Ḥn Găng, Ḥn Khô, Ḥn Nội...

Đến Mỹ Ca, hăy dừng lại đây không phải chỉ v́ trời đất bao la, không gian vô tận, mà chính v́ cảnh trí nơi đây phù hợp với tâm linh đời sống con người, xích lại gần hơn với Chân, Thiện, Mỹ.

Mỹ Ca, nguồn mỹ đức và mỹ cảm rạt rào. Núi sông biển cả hài hoà tuyệt diệu, thiên nhiên hoà điệu đẹp vô ngần. Đời đâu phải là bể khổ! Hiện tại đang nh́n thấy và cảm nhận, vùng trời đất huyền mặc của địa phận Nha Trang: tu viện Mỹ Ca ḍng Citeaux Lerins.

Khởi công từ năm 1933 do linh mục Paulin trực tiếp trông coi, có hai cha Placide và Charles phụ tá. Tu viện Mỹ Ca tại Ba Ng̣i hoàn tất năm 1935 ghi thêm một cơ sở tu tŕ tại địa phận.

Trong thời kỳ c̣n xây cất ngổn ngang, tu viện Mỹ Ca đă một lần được vinh dự đón tiếp Đức Khâm Sứ Toà Thánh Drapier. Đó là vào hồi năm 1934. Cuộc tiếp đón vô cùng giản dị cũng như sự viếng thăm bất thần, giản dị của vị đại diện Toà Thánh. Mấy trái dừa thổ sản địa phương làm thức giải khát giữa chủ và khách dưới căn nhà lá đơn sơ dùng làm nơi tạm trú của các linh mục trong khi việc xây cất tu viện c̣n chưa xong.

Mỹ Ca là một bán đảo nhỏ, liền với Nha Trang về phía Bắc và trông ra Vịnh Cam Ranh ở phía Đông. Tu viện nằm ngay trung tâm bán đảo, cách bờ biển gần ba cây số ngàn, xung quanh toàn một màu cát trắng, xa hơn nữa dăy núi bao quanh.

Đến thăm tu viện, đặt chân lên băi cát trắng Mỹ Ca, du khách có cảm tưởng như vừa bỏ lại ở sau cả tập tục, đời sống thường nhật. Cuộc sống xô bồ rộn rịp tới tấp cách đây không lâu c̣n nối liền với hồn trí, tâm tư du khách, c̣n ăn nhịp với buồng gan, với thớ thịt, giờ đây như cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài.

Nghe tiếng chuông reo, vị linh mục lặng lẽ rời pḥng khách, cuộc tiếp xúc sau đó với vị tu sĩ và khách viếng thăm làm hiển hiện thêm cái tĩnh mịch của khung cảnh Mỹ Ca, vắng vẻ giữa tiếng sóng vỗ chập trùng, quạnh hiu bên tiếng ŕ rào của hàng dương liễu trước mặt tu viện.

Thành lập đă lâu do công lao của cha Paulin, vị đầu tiên của ḍng kể từ năm 1934, tu viện Mỹ Ca hiện có 6 linh mục tu sĩ, 8 trợ sĩ, 4 kinh sĩ, 3 tập tu và 25 đệ tử. Con số khiêm tốn, nếu kể về công nghiệp và thời gian xây dựng, cũng như cái khiêm tốn của địa phận Nha Trang so với các địa phận khác.

Nhưng dù khiêm tốn đơn sơ, trên địa hạt giáo dục địa phận Nha Trang cũng đang ghi thêm ít nhiều thành quả duyên dáng, trong đó nên kể trước tiên hoạt động của ḍng Sư Huynh La San thành lập tại Nha Trang từ năm 1933. Ngoài hai dăy nhà kiến trúc đồ sộ làm sơ-tập-viện và tập-tu-viện nằm trên ngọn đồi La San (đối diện với tu viện ḍng Phanxicô) là nơi đào tạo các Sư Huynh tương lai, Nha Trang Công Giáo c̣n có trường Giuse Nghĩa Thục và trường Trung Học Bá Ninh do các thầy ḍng La San điều khiển.

Khởi sự với phong trào di cư, trường Giuse Nghĩa Thục khai giảng được là nhờ công lao cố gắng và nhẫn nại của sư huynh Thomas Hyacinthe từ Hải Pḥng vào. Buổi đầu tiên không có ǵ cả; trường sở không, phương tiện tài lực và nhân lực không. Tất cả chỉ với một tấm ḷng yêu thương, chia sẻ và ư chí đưa đạo đức vào học đường đúng với hoài băo và tôn chỉ vị sáng lập ḍng: Thánh Gioan La San (Jean Baptiste de la Salle).

Ngày vui mừng đă đến, ngày 01/9/1956, cùng với các sư huynh trường Thiện Giáo (Institut des Frères des Écoles Chrétiennes), trường Giuse Nghĩa Thục trên đường Bạch Đằng mở cửa đón mời mấy trăm học sinh. Gọi Nghĩa Thục, v́ đây đúng là một trường học (Thục) cưu mang đầy đủ ư nghĩa và đạo nghĩa hai chữ giáo dục. Trường Giuse Nghĩa Thục dạy miễn phí cho con em các gia đ́nh nghèo khó, nghĩa là hơn 95% số học sinh nhà trường từ đó về sau. Trường lợp mái tôn, vách ván, bàn ghế học sinh, xin đầu này kiếm đầu kia. Bao nhiêu tấm ḷng rộng răi nhân từ và thiện nguyện xây đắp nên, nhờ đó không đầy 10 năm sau Giuse Nghĩa Thục trở thành một cơ sở có uy tín song song với trường Bá Ninh, cùng chung tổ chức, cùng chung truyền thống giáo dục.

Bên cạnh những trường nữ học của các chị ḍng Mến Thánh Giá, ḍng Khiết Tâm, ḍng nữ Đa Minh, du khách đến Nha Trang vẫn thường dừng lại viếng thăm các cơ sở giáo dục và xă hội khác của các nữ tu ḍng Bác Ái Vinh Sơn (Les Filles de la Charité de Saint Vincent de Paul). Ḍng có mặt tại Nha Trang từ đầu thập niên 30 với cô nhi viện và trường tiểu học miễn phí trên một sở đất lớn vừa đủ rộng răi để làm tu viện tại đường Nhà Thờ (Rue de I'Eglise) sau này đổi tên đường Gia Long. Từ nhà chính trên Đồi Mai Anh Đà Lạt (Domaine de Maria), các nữ tu Bác Ái Vinh Sơn hiện đang điều khiển một trường Trung-Tiểu-Học dạy theo chương tŕnh Pháp. Cũng như các nơi khác, chương tŕnh Việt đang áp dụng song song chờ đợi đến ngày thay thế hoàn toàn chương tŕnh Pháp.

Rời Nha Trang, đến Phan Thiết tại ngay tỉnh lỵ với trường trung học Ngô Đ́nh Khôi của linh mục Nguyễn Viết Khai hay trở lại Phan Rang với các trung tâm giáo dục đồng bào thiểu số do các nữ tu ḍng Saint Paul de Chartres đang chăm lo tại G̣ Đền, tạm hết một đoạn đường giáo-dục-địa-phận nhà đang dấn thân phụng sự. C̣n nhiều và nhiều nữa, c̣n cố gắng vẫn c̣n chưa đủ so với nhu cầu địa phương. Dự định của Đức Giám Mục là làm sao thành lập thêm tại thị xă Phan Rang một trường trung học Công Giáo sau khi nhà thờ chính ở đây xây cất xong, có lẽ trong một ngày gần đây.

Dự định to tát, công nghiệp của những người đang xây đắp dự định sẽ c̣n to tát hơn.

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

trích từ http: //www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/Nha Trang/lichsu.htm

Giáo Phận Nha Trang

Nguyên Hương, Texas, Hoa Kỳ