BAN THÁNH NHẠC GIÁO PHẬN NHA TRANG

 

 

HÁT TRONG PHỤNG VỤ

 

Lm. Mi Trầm

 

 

 

PHẦN MỘT: THÁNH NHẠC

CHƯƠNG MỘT TÌM HIỂU CHỮ THÁNH NHẠC

I. Nguồn gốc chữ THÁNH NHẠC:

II. Tìm hiểu ý nghĩa chữ THÁNH

1. Con người có thể hiểu được chữ THÁNH là do cảm nhận thân phận làm người của mình.

2. THÁNH là điều dành cho Chúa

3. Mục đích của THÁNH NHẠC

CHƯƠNG HAI DIỄN TIẾN QUAN NIỆM VỀ THÁNH NHẠC.

I. Diễn tiến quan niệm về Thánh nhạc.

II. Cái nhìn mới của Vatican II về Thánh nhạc.

A. Thánh Nhạc đóng vai trò thừa tác trong Phụng V.

B. Những nhận định:

C. Thánh Nhạc theo quan điểm của CIMS và UL..

CHƯƠNG BA Ý NGHĨA CỦA THÁNH NHẠC TRONG PV

1. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích loan báo

2. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích tán tụng

3. Thánh Nhạc làm nổi bật ý nghĩa ngày l

4. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích đối thoại

5. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích cộng đoàn

CHƯƠNG BỐN Ý NGHĨA VIỆC CA HÁT TRONG PV

1. Tầm quan trọng của việc ca hát.

a) Hát là cách biểu lộ niềm vui.

b) Hát nâng cao hiệu năng lời cầu nguyện.

c) Hát để tôn vinh

2. Những phần phải hát trong cử hành PV:

3. Vài hình thể Âm nhạc thường dùng trong PV:

A. Thánh thi (Hymne)

B. Ðáp ca:

C. Ðối ca:

D. Choral:

E. Ca khúc:

4. Những người đảm nhận việc hát trong PV.

A. Chủ tế:

B. Cộng đoàn:

C. Người đọc Sách Thánh:

D. Người hát Thánh vịnh Ðáp ca:

E. Ca đoàn:

F. Người đệm đàn:

PHẦN HAI: TÌM HIỂU VÀ THỰC HÀNH CÁC PHẦN TRONG THÁNH L.

I. Nghi thức đầu l

CHƯƠNG MỘT PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

I. NGHI THỨC ÐẦU LỄ:

1. CA NHẬP LỄ:

2. KINH THƯƠNG XÓT:

3. KINH VINH DANH:

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA:

1. ÐÁP CA:

2. CA TIẾP LIÊN: (Graduel, Séquence)

3. ALLELUIA:

4. KINH TIN KÍNH:

CHƯƠNG HAI PHỤNG VỤ THÁNH TH

PHẦN A: DÂNG LỄ:

1. Nguồn gốc:

2. Cách hát ca dâng lễ:

PHẦN B: KINH TẠ ƠN.

I. KINH THÁNH, THÁNH:

II. KINH TƯỞNG NIỆM:

III. VINH TỤNG CA:

PHẦN C: HIỆP L

I. KINH LẠY CHA:

II. KINH LẠY CHIÊN TC:

III. BÀI CA HIỆP LỄ:

PHẦN BA: THÁNH NHẠC THEO HIẾN CHẾ VỀ PHỤNG VỤ THÁNH.

1. "Truyền thống Âm Nhạc của toàn thể GH đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá".

2. "Kho tàng âm nhạc vượt hẵn mọi mọi diễn tả nghệ thuật".

3. "Ðiệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong PV Thánh Thể".

4. "Không những Thánh Kinh, mà cả các giáo phụ và các Ðức Thánh Cha đã khen ngợi những bản thánh ca".

a) Thánh kinh và TN:

b) Các giáo phụ và TN:

c) Các giáo hoàng và TN:

5. "Tiên phong là Ðức Piô X đã làm sáng tỏ rõ ràng hơn vai trò của Thánh Nhạc trong PV"

6. "Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động PV bao nhiêu thì càng thánh hơn bấy nhiêu".

a) Nhạc là thánh hay phổ quát:

b) Nhận định:

7. "TN vừa phát triển lời cầu nguyện một cách dịu dàng, vừa cổ võ sự đồng thanh nhất trí, lại vừa làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng"

a) TN phát triển lời cầu nguyện cách dịu dàng

c) TN cổ võ sự đồng thanh nhất trí

b) TN làm cho nghi lễ thêm long trọng.

8. "GH chuẩn nhận và cho dùng vào PV tất cả mọi hình thức nghệ thuật đích thực, miễn là có những đặc tính cần thiết".

9. "Mục đích của TN là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu".

10. "Hoạt động PV mang một hình thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự"

a) Bổn phận chủ toạ của chủ tế:

b) Bổn phận hát của chủ tế:

11. "Giáo dân tích cực tham gia"

a) Ý nghĩa:

b) Những trích dẫn trong Hiến chế về PV thánh về sự tham dự của giáo dân:

12. "Còn về ngôn ngữ được sử dụng, hãy theo qui tắc khoản 36".

a) Tinh thần Musicae Sacrae Disciplina (1955):

b) Tinh thần De Musica Sacra (1958):

c) Tinh thần Hiến chế về PV thánh (1967):

13. "Phải hết sức lo lắng duy trì và cổ võ kho tàng TN".

14. "Phải nỗ lực đào tạo các ca đoàn, nhất là ở nhà thờ chính toà".

15. Các tín hữu tham gia cách linh động

a) GM, Lm nhiệt tâm:

b) Cộng đoàn linh động:

16. "Phải chú trọng đến việc huấn luyện và thực tập âm nhạc trong các Chủng viện, các tập viện..."

17. Dạy trong học viện và học đường công giáo.

18. "Cần phải quan tâm đến việc huấn luyện những giáo sư có nhiệm vụ dạy TN".

19. "Nên thành lập những viện Cao đẳng TN".

20. "Các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi, cũng phải được huấn luyện cho đủ khả năng PV".

a) Nhạc sĩ"

b) Các thiếu nhi:

21. Bình ca:

A. Nguồn gốc của Bình ca:

B. Tầm quan trọng của Bình ca:

C. Huấn quyền và Bình ca:

22. Không là loại trừ các loại TN khác

A. Nhạc đa âm:

B. Nhạc đa âm hiện đại:

23. "Cũng nên lo ấn hành một loại sách hát gồm những âm điệu đơn sơ hơn để dùng trong các nhà thờ nhỏ".

24. Phải cổ võ thánh ca bình dân cách khéo léo

A. Nhạc tôn giáo:

B. Nhạc bình dân tôn giáo:

25. Âm nhạc tại các xứ truyền giáo.

26. Cần phát triển âm nhạc của các dân tộc.

27. Ðại phong cầm.

A. Nguồn gốc:

B. Vai trò của đại phong cầm:

28. Các nhạc cụ khác

A. Ðiều kiện để được nhận là nhạc khí dùng trong nhà thờ:

B. Người đệm đàn:

29. Các nhạc sĩ Kitô giáo phải trau dồi TN

a) Kinh nghiệm của Ns:

b) Ðạo đức cá nhân:

30. Sáng tác TN

PHẦN MỘT:
THÁNH NHẠC

CHƯƠNG MỘT
TÌM HIỂU CHỮ THÁNH NHẠC

Thánh Nhạc là danh từ quen thuộc, nhưng mấy ai hiểu rõ ý nghĩa. Vậy, để tìm hiểu, ta cùng nhau bàn đến những điều sau đây:

Nguồn gốc chữ Thánh Nhạc.

Ý nghĩa chữ THÁNH.

Mục đích của Thánh Nhạc.

I. Nguồn gốc chữ THÁNH NHẠC:

+ Theo Nicolas Schulz[1] thì từ Thánh nhạc đã có từ thế kỷ 17. Nhà sáng tác và lý thuyết Michael Proetorius[2] đã dùng từ Thánh Nhạc lần đầu tiên vào năm 1614, trong cuốn sách của ông tựa đề: "DE MUSICA SACRA et ECCLESIASTICA"[3]. Thời đó, có lẽ ông chưa phân biệt rõ Thánh Nhạc với Nhạc đời như ngày nay.

+ Ðến năm 1860, trong công đồng địa phương tại COLOGNE, nước Ðức, lần đầu tiên chữ Thánh Nhạc được đưa vào luật Phụng Vụ.

+ Tài liệu đầu tiên của Giáo Hội chấp nhận chữ Thánh Nhạc là: "DE MUSICA SACRA" của Ðức Lêô XIII[4].

+ Chữ Thánh Nhạc vĩnh viễn được chấp nhận trong luật Giáo Hội với Tự sắc : TRA LE SOLLECITUDINI của Ðức Piô X[5].

+ Công đồng VATICAN II vẫn dùng chữ Thánh Nhạc[6] nhưng mặc cho nó một ý nghĩa mới.

II. Tìm hiểu ý nghĩa chữ THÁNH

Trước khi định nghĩa, xin nêu vài trích dẫn giúp hiểu được phần nào về chữ THÁNH.

1. Con người có thể hiểu được chữ THÁNH là do cảm nhận thân phận làm người của mình.

Theo Otto[7] thì: "Sự ý thức lần đầu về chữ THÁNH đồng nghĩa với cảm nhận thân phận thụ tạo".[8]

Régis Jolivet, trong từ điển Triết Học[9] đã định nghĩa "Chữ THÁNH liên quan đến Tôn giáo, đến việc thờ tự. Và như thế, THÁNH là đối tượng của sự tôn trọng, của lòng kính sợ".

M. Aumont đã viết "Trong các sinh vật thì chỉ con người sinh sống và biết nghĩ đến một sức mạnh sáng tạo có trước đời sống ngắn ngủi của mình và vượt xa đến vô cùng"[10].

Như vậy, khi ta càng nhận ra mình là thụ tạo thì ta càng thấy Thiên Chúa là Ðấng Rất Thánh.

2. THÁNH là điều dành cho Chúa

Một nhóm tác giả đã viết: "Nghệ thuật thánh là nghệ thuật dành cho Chúa. Ví dụ: Chén thánh dành riêng cho việc Phụng tự. Vậy, Thánh Nhạc cũng phải dành cho Chúa".[11]

Linh Mục Louis Bouyer định nghĩa: "THÁNH chính là cái tách biệt với TỤC".[12]

3. Mục đích của THÁNH NHẠC

a) "Mục đích của Thánh nhạc là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu".[13]

b) Vài nhận định:

"Hát thì thích. Ðó là điều tự nhiên. Nhưng trong PV, Nhạc phải giúp ta tìm đến Ðấng Vô Hình".[14]

GM Chevrot khôi hài: "Tôi sợ Nhạc ở nhà thờ. Nếu dở quá thì nhạc làm tôi khó chịu. Nhưng nếu hay quá thì nhạc làm tôi lo ra. Trong cả hai trường hợp, nhạc làm tôi khó cầu nguyện".[15]

Ðây là câu nói sâu sắc vì muốn nhắc ta nhớ rằng việc sử dụng Thánh nhạc phải giúp người khác nâng hồn lên tới Chúa.


 

 

CHƯƠNG HAI
DIỄN TIẾN QUAN NIỆM VỀ THÁNH NHẠC

 

Con người luôn tiến triển. Các quan niệm thay đổi theo thời gian. Cái nhìn về Thánh Nhạc cũng phiến diện lúc phôi thai và mỗi ngày thêm hoàn chỉnh. Do đó, ta cùng nhau tìm hiểu:

+ Diễn tiến quan niệm về Thánh Nhạc.

+ Cái nhìn mới của VATICAN II về Thánh Nhạc.

+ Thánh Nhạc theo quan điểm của CIMS UL.[16]

I. Diễn tiến quan niệm về Thánh nhạc

Thời Ðức Piô X, Thánh Nhạc chỉ được coi là tôi tớ hèn mọn.[17]

Trong DIVINI CULTUS[18], Ðức Piô XI cho Thánh Nhạc là tôi tớ sang trọng.

Ðức Piô XII, trong Thông điệp "MEDIATOR DEI"[19], đã coi Thánh Nhạc như thành phần cần thiết của Phụng Vụ.

Mãi đến lúc nầy, Thánh Nhạc mới đóng vai trò quan trọng hơn trong cử hành PV.

Với Công đồng VATICAN II, Thánh Nhạc đóng vai trò thừa tác, là thành phần của Phụng Vụ. Ðây là cái nhìn rất mới, rất có giá trị. Ðó là kết tinh của kinh nghiệm bao thời và do suy tư của bao người.

II. Cái nhìn mới của Vatican II về Thánh nhạc.

A. Thánh Nhạc đóng vai trò thừa tác trong Phụng Vụ.

Hai trong những cái nhìn mới của Công đồng Vatican II là: Thánh nhạc đóng vai trò thừa tác và cộng đoàn tích cực tham dự trong các cử hành Phụng Vụ. Trong phần nầy, chúng ta chỉ bàn đến vai trò thừa tác của Thánh nhạc.

Hiến chế về Phụng Vụ thánh viết: "Ðiệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong Phụng Vụ trọng thể".[20]

"Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động Phụng vụ bao nhiêu thì càng thánh hơn bấy nhiêu".[21]

Sau 20 thế kỷ, Giáo Hội thêm xác tín điều đã tìm kiếm và thử nghiệm từ lâu. Cái nhìn mới về Thánh Nhạc của Vatian II đã làm cho cử hành Phụng Vụ ngày nay càng thêm phần linh động khiến các nhà chuyên môn về Thánh Nhạc tích cực nêu lên những nhận định riêng tư của họ.

B. Những nhận định:

Theo Lm. J. Gélineau[22] thì Hiến chế về Phụng Vụ Thánh là một cuộc cách mạng, nhất là Công đồng nói đến hành vi thừa tác của Thánh Nhạc.

Gérard Kock[23] đã nói: "Nhạc trong Phung Vụ không còn là thứ trang trí. Nhạc trở nên thành phần cần thiết và trọn vẹn của Phụng Vụ. Nhạc lại trở nên chính Phụng Vụ".

Và nhận định của Tiến sĩ Helmut Hucke[24]: "Ðiểm quan trọng của Hiến chế về Phụng Vụ Thánh là liên kết Nhạc với Phụng Vụ. Nhạc không chỉ là thẩm mỹ mà còn là yếu tố Phụng Vụ".[25]

Qua những nhận định trên đây, ta hiểu phần nào về cái nhìn mới của Công đồng. Và khi nói đến Thánh Nhạc theo Vatican II, ta không thể không nhắc tới hai tổ chức quốc tế về Thánh nhạc, vừa có bước tiên phong, vừa có quyết tâm thực hiện cái mới.

C. Thánh Nhạc theo quan điểm của CIMS và UL

Ta có thể nói là hai tổ chức nầy có những khác biệt, nhưng lại bổ túc cho nhau. Trước hết, ta tìm hiểu về CIMS.

1. CIMS:

a)Tên gọi: CIMS chữ là viết tắt của Consociatio Internationalis Musicae Sacrê có nghĩa là Tổ chức quốc tế về Thánh nhạc.

b) Thành lập: Do Ðức Phaolô VI thành lập, ngày 22.11.1963.

c) Ðường hướng:

- Nhóm nầy chủ trương nghiên cứu kho tàng Thánh nhạc và Bình ca để rút tỉa cách sáng tác Thánh nhạc cho cộng đoàn.

- Họ dùng chữ Thánh Nhạc để chỉ Nhạc trong Phụng Vụ.

2. UL:

a) Tên gọi: Ðây là tên viết tắt của Universa Laus, có nghĩa là "Khắp nơi ca ngợi"

b) Thành lập: Nhóm nầy được thành lập tháng 4.1966, tại Lugano (Thụy Sĩ) do các nhạc sĩ: J. Gélineau và L. Deiss (Pháp), H. Hucke và E. Quack (Ðức).

c) Ðường hướng:

Nhóm nầy xem xét các bài hát phù hợp thế nào với các nguyên tắc của Thánh Nhạc truyền thống (Ngược với CIMS).

Họ không muốn dùng chữ Thánh Nhạc nhưng dùng chữ Nhạc nghi thức Công giáo hay Nhạc trong Phụng Vụ Công giáo (cũng ngược với CIMS). Theo một số nhà phê bình thì khi dùng chữ Nhạc nghi thức, nhóm nầy có vẻ muốn dùng nhạc đời.

d) Một vài tiêu chuẩn:[26]

"Việc đàn hát trong Phụng Vụ phải gọi là Nhạc trong Phụng Vụ Công giáo hay Nhạc nghi thức Công giáo. Những kiểu nói Thánh Nhạc, Nhạc Tôn giáo, Nhạc trong Giáo Hội đều không chính xác".[27]

"Trong Phụng Vụ, Nhạc phải mang tính cộng đồng. Hơn nữa, lời cũng đóng vai trò đặc biệt".[28]

"Phụng Vụ trước hết là một hành động thì Nhạc nghi thức là phải hát cộng đồng. Mỗi nghi thức là một thời điểm nhất định và Phụng Vụ là một sự kiện riêng biệt".[29]

e) Những xác tín:[30]

"Ca, nhạc là thành phần của Phụng Vụ".[31]

"Không loại nhạc nào tự nó là đời hay thánh, nhưng chỉ là Nhạc nghi thức".[32]

"Nhạc không lời cũng có chỗ đứng trong Phụng Vụ".[33]

f) Nhận định của Virgil C. Funk về UL:

Khi phân tích về Nhạc nghi thức của UL, Funk nhận thấy có điều gì đó chưa ổn và ông viết:

"Ai dùng chữ Nhạc nghi thức thay chữ Thánh Nhạc thì không phân biệt vấn đề thánh hay tục nữa" (UL như muốn dùng nhạc đời).

"Nếu nhạc đời dùng trong nghi thức nào đó thì không còn là nhạc đời mà là nhạc nghi thức. Nếu Thánh Nhạc dùng trong một nghi thức nào đó thì không còn là Thánh Nhạc mà chỉ là Nhạc nghi thức".[34]

Ở Mỹ, có một thời, các loại nhạc nở rộ trong nhà thờ, có lẽ chịu ảnh hưởng của UL. Phong trào đó có những ưu điểm của nó, nhưng vẫn không thiếu những điều cần xét lại.

g) Bài học từ kinh nghiệm của Mỹ:

Virgil C. Funk đã viết: "Ở Mỹ, chúng tôi đã trả giá đắt cho việc tự do thử nghiệm Nhạc đời trong Phụng Vụ. Chúng tôi đã đi vào ngõ cụt. Chúng tôi đã sai lầm".[35]

Và Aiden Kavanagh, nhà nghiên cứu Phụng Vụ nổi tiếng ở Mỹ, đã nói: "Phải thích ứng Văn hóa vào Phụng Vụ hơn là thích ứng PV vào Văn hóa. Thích ứng PV vào Văn hóa sẽ làm mất PV. Thích ứng Văn hóa vào PV đương nhiên là điều hữu ích".[36]


 

 

CHƯƠNG BA
Ý NGHĨA CỦA THÁNH NHẠC TRONG PV

 

Thánh Nhạc là thành phần của PV và được xem như là một bè trong bài hợp ca. Ta không thể tách bè đó ra khỏi toàn bộ hoà âm. Do đó, ta cần tìm hiểu các cách diễn tả của Thánh Nhạc để khi hát, ta gặt hái được nhiều kết quả hơn.

1. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích loan báo

Phụng Vụ được xây dựng trên Lời Chúa, trên Tin Mừng, do đó, Nhạc trong PV phải phù hợp với Lời Chúa, phải diễn tả đúng Tin Mừng. Ta không thể nói bất cứ điều gì hay hát bất cứ bài gì. Nội dung bài hát cần được xem xét kỹ lưỡng.

Các sáng tác của các nhóm Phụng Vụ giáo xứ, những lời thơ để dệt nhạc của các thi sĩ càng cần được xét duyệt cẩn thận hơn nữa. Ta buộc lòng phải làm như thế chỉ vì muốn bảo đảm nội dung của các bài hát: Phải loan báo đúng sứ điệp của Lời Chúa.

2. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích tán tụng

Phụng Vụ là công việc của cộng đoàn, của Giáo Hội. Mục đích việc dân Chúa tụ họp bên nhau là để ca ngợi Chúa.

Ngày xưa, dân Israel ca tụng Chúa lúc vui, lúc gặp nhiều hạnh vận. Nhưng ngay trong cảnh đau thương, họ vẫn cất lời ca tụng vì họ tin chắc rằng Chúa sẽ nhận lời họ cầu xin:

"Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa,

Chúa đáp lời và giải thoát tôi" (Tv 117, 5).

Khi ta đọc hay ngâm cao giọng thì cũng đã là cách ca tụng Chúa đầy phấn khởi rồi. Nhưng khi ta cùng nhau hát lên thì chiều kích tán tụng sẽ rõ nét hơn.

Trong Phụng Vụ, loan báo và tán tụng là hai chiều kích rất quan trọng. Do đó, ta cần hết sức lưu tâm để làm nổi bật công việc nầy.

3. Thánh Nhạc làm nổi bật ý nghĩa ngày lễ

Phụng Vụ là một ngày lễ, là "tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo Hội".[37] Vậy, Thánh Nhạc phải làm sao để diễn tả hết sức sống mãnh liệt đó.

Thánh Nhạc phải làm nổi bật ý nghĩa của mùa Phụng Vụ. "Thánh Nhạc vừa làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng".[38]

Ðể chu toàn phận vụ của mình, Thánh Nhạc phải đạt đến trình độ nghệ thuật đích thực. "Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẵn mọi diễn tả nghệ thuật".[39]

Một điều cần lưu ý: Dù Nhạc rất nghệ thuật, nhưng cộng đoàn không hát được vì khó quá thì Nhạc vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu của Giáo Hội. Ta phải dung hoà để nhạc vừa có tính nghệ thuật, vừa phù hợp với khả năng hát của cộng đoàn.

4. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích đối thoại

Ðối thoại là cách trao đổi giữa hai bên. Có nhiều cách thể hiện đối thoại:

Hình thức đối thoại đúng nghĩa nhất trong cử hành Phụng Vụ là Ðáp ca. Ðó là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và suy niệm. Tiếp đó, họ sẽ hát đáp lại. Hình thức hát Ðáp ca thích hợp là lối ngâm vịnh. Nhưng ở Việt Nam, các Nhạc sĩ thường sáng tác Ðáp ca theo hình thức ca khúc.

Ngoài Ðáp ca, những lúc khác trong cử hành Phụng Vụ cũng cho thấy chiều kích đối thoại. Công cuộc cứu chuộc của Chúa được chuyển đạt từ Thiên Chúa đến con người, qua kinh nguyện trong PV, và con người hát câu tung hô để bày tỏ sự ưng thuận và biết ơn của mình.[40]

5. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích cộng đoàn

Phụng Vụ là công việc của cộng đoàn, vì "Nhờ phép rửa tội, việc tham dự Phụng Vụ trở thành quyền lợi và bổn phận của dân Kitô giáo".[41]

Phụng Vụ không còn là việc dành riêng cho hàng giáo sĩ, nhưng mỗi người phải góp phần để linh động hóa việc cử hành. Người đệm đàn, xướng viên, ca đoàn, cộng đoàn. "Họ phải thi hành phận vụ mình với lòng đạo đức chân thành và trật tự, phù hợp với thừa tác vụ trọng đại ấy và là điều dân Chúa có quyền đòi hỏi nơi họ".[42] Không ai được độc quyền, nhưng phải chia việc cho nhau, "cần phải hết sức để tâm đến việc tham dự trọn vẹn và linh động của toàn dân".[43]

 

CHƯƠNG BỐN
Ý NGHĨA VIỆC CA HÁT TRONG PV

 

Qui chế tống quát (QCTQ) cho rằng: "Việc sử dụng ca hát trong các cuộc cử hành phải là điều quan trọng".[44]

Nền Âm nhạc của Giáo Hội đã có từ thuở khai sinh và đã để lại một kho tàng vô giá. Trong ý hướng tìm hiểu ý nghĩa việc ca hát trong PV, ta lần lượt nghiên cứu:

+ Tầm quan trọng của việc ca hát

+ Những phần phải hát trong cử hành PV.

+ Vài hình thể âm nhạc thường dùng trong GH.

+ Những người đảm nhận việc hát trong PV.

1. Tầm quan trọng của việc ca hát

a) Hát là cách biểu lộ niềm vui

"Ngày ngày, họ đồng tâm nhất trí chuyên cần tới đền thờ, lòng hân hoan, dạ đơn thành trong lời ca khen Thiên Chúa".[45]

Thánh Augustinô (354- 430) cho rằng "Hát là việc của người yêu" (Bài giảng 336, 1: PL 38, 1472).

b) Hát nâng cao hiệu năng lời cầu nguyện

Lời Thánh Augustinô đã trở thành câu ngạn ngữ: "Hát hay là cầu nguyện hai lần" cho thấy tầm quan trọng của việc ca hát. Nhưng thế nào là hát hay lại trở thành vấn đề không dễ giải thích.

c) Hát để tôn vinh

"Hãy dùng Thánh vịnh, lời ca, lời vãn mà ngợi khen Thiên Chúa hết lòng anh em".[46]

Có gì vui hơn, có gì sốt sắng hơn, có gì xứng đáng hơn để tôn vinh Chúa cho bằng ca hát. Nói như thế có thể là hơi quá, nhưng ca hát chắc chắn là không thể thiếu trong đời sống con người và cả trong cử hành Phụng Vụ của Giáo Hội.

2. Những phần phải hát trong cử hành PV:

Trong cử hành Phụng Vụ, ta phân biệt:

- Lễ hát: Khi chính chủ tế hát phần của mình.

- Lễ trọng (trọng thể): Khi có thầy phó tế phụ lễ.

- Lễ đọc (Messe basse, Messe lue): Khi chủ tế chỉ đọc, không hát.[47]

"Nhưng khi chọn lựa những phần để hát thực sự thì hãy dành ưu tiên cho những phần quan trọng hơn, nhất là những phần do Linh mục hay người giúp lễ hát, giáo dân thưa; hoặc những phần mà cả Linh mục lẫn giáo dân cùng hát".[48]

Huấn thị DE MUSICA SACRA et SACRA LITURGIA[49], số 25 viết : "Vậy trong lễ trọng, sự kiện giáo dân tham gia (việc hát) được chia thành 3 cấp:

a) Phần ưu tiên một: tức là phần hát đối đáp giữa Linh mục chủ tế với cộng đoàn như:

- Amen

- Và ở cùng Cha

- Lạy Chúa, vinh danh Chúa

- Chúng con đang hướng về Chúa

- Thật là chính đáng

- Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

- Tạ ơn Chúa

b) Phần ưu tiên hai: tức là phần Giáo dân hát phần Thường lễ (còn gọi là Bộ lễ vì không thay đổi theo ngày lễ) như:

- Kinh Thương xót

- Kinh Vinh danh

- Kinh Tin kính

- Kinh Thánh, Thánh, Thánh

- Kinh Lạy Chiên TC

c) Phần ưu tiên ba: là khi những người dự lễ hát phần Lễ Riêng.[50]

Phần nầy có thể kể đến:

- Ca Nhập lễ và Hiệp lễ.

- Ðáp ca sau bài đọc 1.

- Alléluia.

- Bài ca dâng lễ.

Phần nầy nên được phát huy mạnh mẽ ở trong các Tu viện hoặc Chủng viện[51] vì họ có giờ và có khả năng để hát hơn giáo dân.

3. Vài hình thể Âm nhạc thường dùng trong PV:

Nhạc dùng trong Phụng Vụ rất phong phú về hình thể âm nhạc. Mỗi hình thể có vẻ đẹp và công dụng riêng. Ðây là vài hình thể tiêu biểu:

Thánh thi

Ðáp ca

Ðối ca

Choral (đọc là cô-ran)

Ca khúc

A. Thánh thi (Hymne)

a) Hình thức:

Ðây là hình thức thánh ca một đoạn nhạc gồm 3, 4, 5 hay 7 câu nhạc. Loại hình thể 4 câu nhạc là phổ biến nhất, theo mô hình sau đây:

* A B C D (đoạn nhạc gồm 4 câu nhạc hoàn toàn khác nhau). Ví dụ bài O salutaris.

* A A B C (2 câu đầu giống nhau, câu B và C khác nhau và khác với câu A). Ví dụ bài Adorote.

* A B C B (câu 1 và 3 khác nhau, câu 3 và 4 giống nhau).

Ðôi khi ta cũng gặp loại Thánh thi 3, 6 hay 7 câu nhạc. Ví dụ bài Stabat Mater.

b) Công dụng:

Ðây là bài ca mang tính tán tụng, ngợi khen, thường được dùng để khởi đầu giờ kinh Phụng Vụ.

B. Ðáp ca:

a) Diễn tiến qua lịch sử:

Lúc đầu, tk 4 [52], người ta hát Tv theo lối ngâm vịnh, nghĩa là đọc lớn tiếng, khoan thai,[53]

Theo André Hodeir[54] thì đây là bài ca tạ ơn của dân Israel rồi sau nầy, Công giáo và Tin lành đem dùng trong Phụng Vụ.

Theo giòng thời gian, cách hát Tv đã biến đổi rất nhiều.

Vào tk 14, người ta hát Thánh vịnh theo hình thức: Hát Solo có đệm nhạc khí.

Tk 16, người ta hát nhạc 4 bè và có khi nhiều bè hơn, nhưng không đệm nhạc khí, nên gọi là hát a cappella.

Tk 17, người ta hát Thánh vịnh với ca đoàn, Solo và dàn nhạc. Ví dụ bài De Profundis của La Lande và bài Symphonie de Psaumes của Stravinsky.

b) Hình thức:

Trong Phụng Vụ, Giáo Hội chỉ hát Ðáp ca cách đơn giản, gồm câu xướng và đáp.

+ Xướng: gồm nhiều câu, thường dựa trên cung ngâm hơn là cung hát.

+ Ðáp: thường chỉ là một câu nhạc. Câu đáp dành cho cộng đoàn nên cần giai điệu dễ hát.

Lưu ý: Trong sách Các bài đọc, GH trình bày Ðáp ca theo mô hình Xướng rồi Ðáp. Nhưng trong thực tế, để giúp cộng đoàn dễ hát câu Ðáp, người hát Tv nên xướng câu Ðáp trước để cộng đoàn làm quen với câu Ðáp rồi sau đó, họ sẽ hát lại. Tiếp đến, người hát Tv mới xướng câu PK. Trong Sách hát của Pháp, Ðức, Mỹ, người ta cũng trình bày như vậy, có lẽ họ thấy làm như thế là tiện dụng cho cộng đoàn.

C. Ðối ca:

Ðối ca đã có từ tk 4 và phát triển thành Thánh vịnh Ðáp ca. Ðối ca cũng được dùng để hát với Tv, nhưng khác với Ðáp ca ở chỗ:

- Trong Ðáp ca, ý câu Ðáp bổ túc cho ý câu Xướng

- Trong Ðối ca, ý tưởng biệt lập. Ý câu Tv hát kèm thường không hoàn toàn tương hợp với ý Ðối ca.

Ðối ca được dùng như:

Ðối ca Nhập lễ

Ðối ca Dâng lễ

Ðối ca Hiệp lễ

 

D. Choral:

a) Nguồn gốc:

Loại nầy rất phổ thông ở Ðức thời cải cách[55], là căn bản của Phụng Vụ Tin Lành Luther. Choral lấy hứng từ nhiều nguồn: từ bài hát đời của Ðức, từ Bình ca của Công giáo và từ nhiều nguồn khác nữa. Luther có sáng tác một vài bài.

Choral đạt cao điểm với Bach[56] và đi vào quên lãng giữa tk 18, dù Franck và Honegger đã hết sức cố gắng khôi phục nhưng vẫn không thành công.

b) Công dụng:

Ðây là bài hát cộng đoàn.

c) Ðặc tính:

Choral là ca khúc một đoạn gồm 4, 6 hay 8 câu nhạc. Ðây là vài đặc tính:

 

- Âm vực: giới hạn trong quãng 8 hay 10 và viết ở độ cao trung bình.[57]

- Tiết tấu: thường dùng một hình nốt chung cho toàn bài, phổ thông là nốt đen hay trắng. Nhịp thường dùng là 2/2, 4/4 và 3/ 4.

- Giai kết: Cách kết câu nhạc được xác định rõ ràng bằng nốt có độ dài (vd nốt trắng, tròn...) hoặc nốt có độ ngắn với dấu chấm lưu.

E. Ca khúc:

Có hai loại ca khúc:

- Sự phối hợp giữa Thánh thi và Choral đã hình thành nên một loại ca khúc ngắn, chỉ có một đoạn nhạc nhưng gồm nhiều câu nhạc (ví dụ bài Ðêm thánh vô cùng).

- Ca khúc thông dụng ở Việt Nam thì gồm ÐK và nhiều PK. Ðó là sự phối hợp giữa đối ca và thánh thi.

4. Những người đảm nhận việc hát trong PV

"Trong cộng đoàn họp nhau dự lễ, mỗi người đều có quyền lợi và nhiệm vụ đóng góp phần mình, cách khác biệt, tùy sự khác biệt của cấp bậc và phần việc".[58]

Thừa tác viên có chức thánh là Lm và phó tế. "Là thừa tác viên hay là tín hữu, trong các việc cử hành Phụng Vụ, mỗi người khi chu toàn phận vụ, chỉ cử hành trọn những gì thuộc lãnh vực của mình tùy theo bản chất sự việc và những qui tắc Phụng Vụ".[59] Chúng ta sẽ đề cập đến phận vụ của mỗi thành viên trong cử hành Phụng Vụ:

Chủ tế

Cộng đoàn

Người đọc Sách Thánh

Người xướng vịnh

Ca đoàn

Người đệm đàn

A. Chủ tế:

a) Nhiệm vụ chủ toạ của chủ tế:

Theo Lm Claude Duchesneau thì chủ tế có 3 nhiệm vụ:

- Do bí tích Truyền chức, Chủ tế đại diện Chúa Kitô là đầu Giáo Hội[60]. Thực tế, chính Chúa Kitô là chủ tế.

- Do bí tích Truyền chức, Lm là cộng sự viên của GM. Việc Lm chủ toạ trong cử hành PV cũng muốn nói lên rằng việc cộng đoàn tụ họp làm là việc chính thức của Giáo Hội trong mối liên kết với GM địa phương (Giáo phận) và với Giáo Hội hoàn vũ.

- Chủ tế nối kết sự hiệp nhất giữa cộng đoàn.

Như vậy, Lm chủ toạ không vì tư cách hay quyền lực cá nhân nhưng vì 3 lý do nêu trên.[61]

"Còn về bản chất tư tế thừa tác vụ thuộc riêng Lm, khi nhân danh Chúa Kitô mà hiến dâng của lễ và chủ toạ cộng đoàn dân thánh, bản chất ấy nổi bật trong chính nghi thức cử hành, do vị trí đặc biệt và do chức vụ của Linh Mục".[62]

b) Tư cách của Chủ tế:

"Vậy, khi cử hành Thánh lễ, Ngài phải phục vụ Thiên Chúa và giáo dân cách tôn nghiêm và khiêm tốn. Trong cách cử hành và đọc lời Chúa, Ngài còn phải cho giáo dân cảm thấy sự hiện diện sống động của Ðức Kitô".[63]

Có lẽ cũng nên ghi lại nơi đây vài lời về Lm của Trung tâm Mục vụ toàn quốc Pháp[64]:

- Chủ tế là thành viên của dân Chúa nên phải phục vụ dân Chúa.

- Chủ tế phải có đời sống tâm linh.

c) Chủ tế và việc ca hát trong PV:

"Hoạt động Phụng Vụ mang một hình thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng với tiếng hát do thừa tác viên có chức thánh chủ toạ và giáo dân tích cực tham dự".[65]

Theo Vatican II, cử hành Pv trở nên cao quí hơn nhờ tiếng hát của Lm hay thầy phó tế là thừa tác viên có chức thánh. Nếu Linh muc, phó tế hát hay thì quá tốt. Nhưng nếu các Ngài không biết hát và cũng không thích hát thì sao ?

Các Ngài đã hiểu quá rõ yêu cầu của GH, rất mong các Ngài tìm mọi cách để trau dồi cho chính mình và tạo điều kiện nâng đỡ cộng đoàn và ca đoàn trong lãnh vực hát Thánh ca.

B. Cộng đoàn:

Ngay từ tk 4, Thánh Ambroise, GM giáo phận Milan, đã cổ võ việc hát cộng đoàn trong các cộng đoàn của Ngài. Ngài cũng đã soạn thảo một ca mục các bài hát bình dân.

Mãi đến những năm 50, nhất là với Hiến chế về Phụng vụ thánh của Vatican II[66] nhạc cộng đoàn mới hồi sinh.[67]

Bây giờ, ta bàn đến ý nghĩa và vai trò của cộng đoàn.

a) Ý nghĩa:

Chữ Giáo Hội có nghĩa là cộng đoàn, gồm những người tụ họp và cộng đoàn là thành tố đầu tiên của Phụng Vụ, nghĩa là có cộng đoàn mới có Phụng Vụ.[68] Theo Casiano Floristan[69] thì cộng đoàn ít được đề cập đến trong các tài liệu của Giáo Hội. Mãi đến Hiến chế về Phụng Vụ thánh của Vatican II mới nói đến nhiều.[70]

b) Vài đặc tính của cộng đoàn:

Casiano Floristan cũng nêu lên một số đặc tính của cộng đoàn:

- Ðặc tính liên kết: Phụng vụ càng sống động thì sự liên kết giữa các thành phần trong cộng đoàn càng thêm chặt chẽ.

- Ðặc tính linh động: "Mẹ Giáo Hội tha thiết ước mong toàn thể các tín hữu được hướng dẫn tham dự các việc cử hành Phụng Vụ cách trọn vẹn ý thức và linh động".[71]

- Ðặc tính đẳng cấp: Cộng đoàn là "bí tích hợp nhất nghĩa là dân thánh được qui tụ và hướng dẫn dưới quyền của GM".[72]

- Ðặc tính Công Giáo phổ quát: Cộng đoàn không chỉ bao gồm những người tinh tuyền, đạo đức nhưng còn bao gồm cả người tội lỗi nữa.

c) Sự tham dự tích cực của cộng đoàn trong cử hành PV.

"Những mục tử chăn dắt các linh hồn phải chú trọng và kiên tâm theo đuổi việc huấn luyện PV cho các tín hữu và cho họ tích cực tham dự bên trong lẫn bên ngoài".[73]

"Vì thế, GH hằng bận tâm lo cho các Kitô hữu tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy, không như những khách bàng quan, câm lặng nhưng tham dự hoạt động thánh một cách ý thức, thành kính và linh động".[74]

Vatican II[75] nói đến việc cộng đoàn tham dự tích cực rất nhiều lần, nhất là ở các số: 11, 14, 19, 21, 27, 30, 41, 48, 50, 79, 113, 124.

Về Thánh nhạc trong PV, cộng đoàn phải làm gì ? Xin trích dẫn một vài đoạn tiêu biểu:

"Ðể giúp giáo dân tham dự linh động, cần phải phát huy những lời tung hô của dân chúng, những lời đối đáp, những bài ca vịnh, tiền khúc, thánh ca".[76]

"Về phần các GM và Mục tử khác có nhiệm vụ coi sóc các linh hồn, hãy nhiệt tâm lo lắng để trong bất cứ nghi lễ nào có hát, tất cả cộng đoàn tín hữu đều có thể tham dự một cách linh động vào những phần dành riêng cho họ".[77]

C. Người đọc Sách Thánh:

a) Nguồn gốc về vai trò của người đọc sách thánh:

Thừa tác viên đọc sách có từ tk 3: GM phong chức đọc sách khi trao sách cho người nào đó và đương sự trở nên thành phần trong hàng Giáo sĩ. Vai trò nầy thường trao cho con trai có giọng tốt và được đào tạo ở trường.

Vào tk 6, vai trò của thừa tác viên đọc sách bị bãi bỏ vì người ta không giải nghĩa Kinh Thánh cho giáo dân nữa và chức đọc sách trở thành một giai đoạn trong chương trình đào tạo Linh mục.

Vatican II đề cao Kinh Thánh nên vai trò của thừa tác viên đọc sách được phục hồi.[78]

Hiến chế về Phụng Vụ Thánh nói rằng: "Chúa Giêsu hiện diện trong Lời của Ngài và chính Ngài nói, khi người ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội".[79]

b) Tư cách của người đọc sách thánh:

- Ðời sống đức tin: Tuy trong chúng ta, không ai là người hoàn hảo, nhưng không vì thế mà dễ dàng chấp nhận một người đọc sách có đời sống quá đáng.

- Khả năng phát âm: Chúa nói với cộng đoàn hiệu quả nhiều hay ít, một phần là do cách đọc của thừa tác viên đọc sách.[80]

Lưu ý: Ở nhiều nơi, người đọc sách đồng thời cũng là người hát Thánh vịnh Ðáp ca.

D. Người hát Thánh vịnh Ðáp ca:

Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề nầy ở phần Ðáp ca trong CHƯƠNG HAI: Tìm hiểu và thực hành các phần trong Thánh lễ.

E. Ca đoàn:

Helmut Hucke cho rằng: "Ngay cả trong một cộng đoàn có tầm quan trọng trung bình, sự cộng tác của ca đoàn cũng rất quí giá".

Về ca đoàn, ta bàn đến nhiệm vụ, tư cách của ca viên và vị trí của ca đoàn ở trong nhà thờ.

a) Nhiệm vụ của ca đoàn:

QCTQ viết về ca đoàn: "Giữa các tín hữu, ca đoàn có phần việc của họ trong Phụng Vụ. Họ phải lo chu toàn các phần việc của họ, tùy theo các loại bài hát khác nhau. Họ lại phải giúp cho giáo dân tham dự cách linh động vào việc ca hát".[81]

Ðể quãng diễn số 63 trên đây về nhiệm vụ của ca đoàn, ta có thể trích dẫn những lời sau đây của Lm nhạc sĩ Gélineau:

- Xét về cử hành Phụng Vụ, ca đoàn là một bộ phận bình thường trong cộng đoàn.

- Ca đoàn đóng vai trò đáng quí bên cạnh cộng đoàn vì chính ca đoàn nâng đỡ để cộng đoàn hát vững, hát đúng.

- Ca đoàn đối đáp với cộng đoàn trong các bài Thương xót, Vinh danh, Tin kính.

- Ca đoàn hát câu PK.

Lm Cl. Duchesneau cũng có những suy nghĩ như trên, nhưng lại diễn tả theo một lối khác:

Ca đoàn:

- hát trước cộng đoàn để giúp cộng đoàn hát đúng.

- hát với cộng đoàn nghĩa là ca đoàn đôi khi hát thêm bè phụ cho bài hát thêm khởi sắc.

- hát giữa cộng đoàn nghĩa là hát đối đáp với cộng đoàn.

- và hát không cộng đoàn nghĩa là ca đoàn hát hợp ca.

Marie Claude Naouri, cũng có những nhận định như sau:[82]

- Ca đoàn giúp cho nghi lễ thêm long trọng.

- Ca đoàn giúp "giới thiệu" bài hát mới.

- Ca đoàn tạo sự hiệp nhất giữa cộng đoàn.

Tác giả nầy lưu ý một điều: Ca đoàn có thể làm cho cộng đoàn thành thụ động.[83]

b) Tư cách của ca viên:

Hiến chế về Phụng Vụ thánh viết:

"Cả những người giúp, đọc, dẫn giải và những người thuộc ca đoàn cũng chu toàn phận vụ mình với lòng đạo đức chân thành và trật tự".[84]

Lm Trần Hữu Thành, trong bài "Hát Thánh ca đòi hỏi sự đạo đức của ca viên" viết:

1. Ca viên phải có phẩm giá nhân bản

2. Ca viên phải nêu cao phẩm giá của người Kitô hữu là ánh sáng thế gian, là men trong bột và muối ướp trần gian.

3. Ca viên hát Thánh ca phải được giáo dục về Phụng vụ.

+ Hiến chế về Phụng vụ thánh viết: "Các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi phải được huấn luyện cho có căn bản Phụng vụ".[85]

+ Huấn thị về Thánh nhạc viết: "Ngoài việc huấn luyện về âm nhạc, cũng phải lo cho các ca viên được huấn luyện tương xứng về Phụng vụ và đạo đức ngõ hầu khi chu toàn chức năng Phụng vụ của mình, chẳng những họ sẽ làm cho các buổi cử hành nghi lễ thêm đẹp và đem lại cho các tín hữu một tấm gương tốt mà chính họ cũng được lợi ích thật sự về đường thiêng liêng".[86]

4. Ca viên phải thông thạo về Giáo lý căn bản và về Thánh kinh.

5. Ca viên cần hiểu biết về kỹ thuật hát Thánh ca.

+ Huấn thị của Thánh bộ Nghi lễ viết: "Trong số tín hữu, các hội viên của các Tu hội đời, phải được huấn luyện đặc biệt kỹ năng về ca hát, để họ có thể giữ một vai trò tích cực, nâng đỡ và giúp giáo dân tham dự nhiều hơn nữa".[87]

+ "Phải nghiêm túc và kiên trì huấn luyện ca hát cho toàn thể giáo dân cùng một lúc với việc huấn luyện Phụng vụ, tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh và trình độ kiến thức tôn giáo của họ".[88]

6. Ca viên phải nêu cao tinh thần tông đồ phục vụ khi hát thánh ca.

Huấn từ của ÐGH Phaolô VI "Hát Thánh ca trong nhà thờ" viết: "Xin các bạn đừng quên các nhu cầu về nghi thức và đòi hỏi của cộng đoàn. Ðừng rơi vào thói chỉ ưa thưởng thức nghệ thuật cho khoái tai - Xin Chúa gìn giữ các bạn, nhưng hãy tìm cách hướng dẫn cộng đoàn hát cho linh động".[89]

7. Ca viên phải biết sống tinh thần cộng đoàn, tình liên đới trong việc tập và hát Thánh ca.

8. Ca viên phải có lòng mến Chúa, yêu mến sự cầu nguyện

9. Khi hát Thánh ca, ca viên cần tinh thần cầu nguyện: Hát vì Chúa và cho Chúa

10. Ca viên cần thông hiểu "Hát là cầu nguyện "và coi việc hát Thánh ca hay khi tập hát Thánh ca cũng là dịp cầu nguyện.

c) Vị trí của ca đoàn ở trong nhà thờ:

"Phải dựa vào địa thế của mỗi nhà thờ mà sắp đặt chỗ cho ca đoàn, để nêu rõ bản chất của ca đoàn là thành phần của cộng đoàn tụ tập và thi hành một phần việc riêng biệt, để ca đoàn dễ dàng thực hiện được chức năng PV của mình và để mọi thành viên được dễ dàng tham dự cách đầy đủ trong Thánh lễ tức là tham dự bí tích Thánh Thể".[90]

Michel Veuthey nêu lên những đề nghị về vị trí của ca đoàn:[91]

+ Ca đoàn ở tầng đàn:

Theo tinh thần Vatican II thì không tốt vì:

- Ca đoàn tách biệt với giáo dân.

- Ca viên khó tham dự cử hành Phụng Vụ.

+ Ca đoàn ở sau bàn thờ:

Ca đoàn ở chỗ nầy cũng bất tiện vì:

- Chủ tế và người đọc sách quay lưng về ca đoàn

- Ca trưởng hoặc đứng xa ca đoàn, hoặc đứng xa cộng đoàn nên khó điều khiển cả hai cùng một lúc.

+ Ca đoàn ở hàng ghế đầu:

Nếu ta xếp như vậy thì cũng chưa ổn vì:

- Ca đoàn quay lưng về cộng đoàn, tuy vị trí nầy lại thuận tiện cho ca trưởng khi phải điều khiển cả hai.

- Ca đoàn đứng, ví dụ hát lúc rước lễ, còn cộng đoàn thì ngồi.

+ Ca đoàn ở bên cánh nhà thờ (thẳng góc và gần bàn thờ)

Vị trí nầy rất tốt vì:

- Ca đoàn gần cộng đoàn thì dễ nâng đỡ lẫn nhau.

- Ca trưởng có thể điều khiển cả hai vì chỉ cần xoay người một chút là điều khiển được rồi.

- Ca đoàn có thể chu toàn hai phận vụ cùng một lúc: vừa riêng biệt để chu toàn phận vụ của mình, vừa gần cộng đoàn để có thể nâng đỡ họ.

F. Người đệm đàn:

"Những điều vừa nói về ca đoàn cũng có giá trị đối với các nhạc công khác, nhất là đối với người sử dụng phong cầm, trừ những gì phải giữ riêng".[92]

Ðệm đàn là một nghệ thuật. Do đó, nhiệm vụ của họ cũng rất quan trọng.

a) Nhiệm vụ của người đệm đàn:

- Bắt nốt đúng độ cao và độ dài để ca đoàn và cộng đoàn có thể hát đúng.

- Ðệm rõ hơn là đệm lớn

- Biết đệm cho cộng đoàn (to hơn khi đệm cho ca đoàn hát nhưng vẫn không át tiếng hát) và phải biết đệm cho ca đoàn, cho Solo? (nhỏ lại nhưng không át tiếng hát.[93])

b) Tư cách:

(Xem Phần tư cách của ca viên, trang 3).


 

 

PHẦN HAI:
TÌM HIỂU VÀ THỰC HÀNH
CÁC PHẦN TRONG THÁNH LỄ

TIỆC LY được xem như là Thánh lễ đầu tiên và từ THÁNH LỄ đã có từ tk 4.[94]

Chúng ta sẽ tìm hiểu từng phần của Thánh lễ để thực hành tốt bổn phận con cái Chúa.

Chương một: Phụng Vụ Lời Chúa:

I. Nghi thức đầu lễ

II. Phụng Vụ Lời Chúa.

Chương hai: Phụng Vụ Thánh Thể

CHƯƠNG MỘT
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

 

QCTQ 23: "Tất cả những gì đi trước Phụng Vụ Lời Chúa, tức là Ca Nhập lễ, Lời chào, nghi thức sám hối, kinh Thương xót, Kinh Vinh danh đều có tính cách mở đầu, dẫn nhập và chuẩn bị. Mục đích các nghi thức nầy là giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh lễ cho xứng đáng".

Trong lãnh vực Thánh Nhạc, ta chỉ bàn đến những gì liên hệ.

I. Nghi thức đầu lễ

II. Phụng Vụ Lời Chúa

I. NGHI THỨC ÐẦU LỄ:

Trong nghi thức đầu lễ, có những phần sau đây:

Ca Nhập lễ

Kinh Thương xót

Kinh Vinh danh

1. CA NHẬP LỄ (CNL) :

A. Nguồn gốc CNL:

Theo J. Juglar[95] thì CNL có từ tk 6 trong Thánh lễ do ÐGH chủ toạ vì theo ông, vào tk 4, chưa có CNL. Vào thế kỷ nầy, Thánh lễ bắt đầu bằng một kinh đọc thầm rồi tiếp đến là đọc các bài đọc, giống như nghi thức thứ Sáu Tuần Thánh ngày nay.

Theo Albert Rouet[96] thì vào tk 13, khi Lm tiến về bàn thờ, người ta đọc kinh Lạy Cha và kết thúc bằng câu: "Con sẽ bước lên bàn thờ".[97] Sau đó, chủ tế đọc kinh Cáo mình rồi mới lên hôn bàn thờ và hôn Phúc Âm.

Trong lúc nầy, người ta hát Kinh Thương xót (Kyrie) và Kinh Vinh danh (Gloria).

Ngày nay, khi Chủ tế tiến về bàn thờ thì hát CNL.

B. Ðịnh nghĩa:

Theo Le Brun, thì bài hát khi rước Chủ tế tới bàn thờ gọi là CNL.[98]

Theo Albert Rouet[99] thì CNL là bài hát đi rước và kết thúc bằng câu: Sáng danh.

 

C. Mục đích:

Theo J. Juglar, CNL diễn tả sự Tạ ơn hoặc nhắc đến mầu nhiệm của ngày lễ.[100]

Theo QCTQ 25: "Bài ca nầy có mục đích mở đầu việc cử hành Thánh lễ, giúp giáo dân thêm hợp nhất, hướng tâm hồn họ vào mầu nhiệm mùa Phụng Vụ hay ngày lễ, và đi kèm với cuộc rước của Lm và các người giúp lễ".

Trong La célébration de la Messe, CNPL tóm tắt như sau:

Ca Nhập lễ:

- Mở đầu việc cử hành Thánh lễ

- Tạo đồng tâm nhất trí giữa cộng đoàn

- Tạo bầu khí long trọng của ngày lễ

- Hướng tâm hồn cộng đoàn vào mầu nhiệm PV hay ngày lễ

- Hỗ trợ cuộc rước của Lm và thừa tác viên tiến về bàn thờ.

D. Cách hát CNL:

1. Hát hay đọc:

QCTQ 25 viết: "Khi dân chúng đã tụ họp thì bắt đầu hát CNL và các người giúp lễ tiến vào". A. M. Roguet[101] cho rằng "Tự bản chất, CNL là một bài hát vì Thánh lễ không phải là ngày buồn mà là ngày lễ, ngày vui". Trong ngày vui mà ta không hát thì thật là thiếu sót.

2. Hát bài nào:

a) "Có thể dùng Ðiệp ca cùng với Tv"[102]

- Thánh Grégoire cho rằng CNL là cách hát Ðối ca. Ý trong Ðối ca, tức ÐK, không nhất thiết phải hợp với ý Tv trong PK.

- Theo A. M. Roguet thì PK của CNL thường là một Tv hợp với ý ngày lễ hay mùa PV. Còn Ðối ca tức ÐK có thể trích từ Tv hay có thể trích ở sách khác. Ví dụ CNL Giáng Sinh: Ðối ca: Một trẻ thơ đã sinh ra cho chúng ta được trích từ Is 9,6 chứ không phải Tv. Còn PK thì luôn luôn trích Tv.[103]

- Pierre le Brun cho rằng CNL thường gồm 2 hay 3 PK, trích từ Thánh vịnh và kết thúc bằng câu: Sáng danh. Cách đây ngàn năm, người ta bỏ bớt câu Tv nhưng vẫn giữ câu Sáng danh.[104]

b) "Hoặc dùng bản hát nào khác phù hợp với cử hành PV. Bản văn bài hát nầy phải được HÐGM chuẩn nhận".[105]

Ví dụ: CNL Mùa Vọng mà hát bài "Trời cao" thì ai cũng hiểu là họ đang sống trong Mùa Vọng.

3. Hát thế nào ?

"CNL được hát như sau:

"Hoặc luân phiên giữa ca đoàn và dân chúng,

Hoặc luân phiên giữa 1 ca viên và dân chúng,

Hoặc tất cả do dân chúng hát,

Hay do một mình ca đoàn hát mà thôi."[106]

4. Nếu không hát thì đọc:

"Nếu không hát CNL thì giáo dân, hoặc một vài người giáo dân hoặc một độc viên đọc bài CNL ghi trong sách. Nếu không ai đọc thì chính chủ tế đọc sau lời chào".[107]

Ð. Vài đề nghị:

CNL thường là bài ca của cộng đoàn nên xin có vài đề nghị với các nhạc sĩ sáng tác, các ca trưởng và những người có bổn phận chọn bài hát. Ta nên ưu tiên cho những bài:

- Âm vực chỉ nằm trong quãng 8, để cộng đoàn có thể hát được.

- Giai điệu và nhịp điệu đơn sơ, dễ hát

- Nhạc ÐK ngắn, Lời ÐK rõ ràng, dễ nhớ. .

2. KINH THƯƠNG XÓT:

A. Nguồn gốc:

- Kinh nầy bắt nguồn ở Ðông Phương[108] và là dấu tích của kinh cầu.[109]

- Trong 4 thế kỷ đầu, tại các Giáo Hội Hy Lạp, kinh nầy trước hết được đọc để cầu cho các tân tòng và các người thống hối.[110]

- Ðầu thế kỷ 6, kinh Thương xót được đọc ở Rôma và trong các tỉnh có người Ðông Phương.

- Vào tk 7, có lẽ ÐGH Grégoire đã bỏ kinh cầu và chỉ giữ lại câu thưa: Xin Chúa thương xót chúng con.[111] Ðến Vatican II, kinh cầu đã được phục hồi: Ðó là lời nguyện giáo dân.

B. Ý nghĩa:

Ðây là tiếng kêu nói lên nỗi thống khổ và sự tin cậy vào Chúa:[112]

Mt 20, 30: Hai người mù ở Giêricô đã kêu lên: "Lạy Ngài, lạy Con Ðavít, xin thương xót chúng tôi".

Mt 15, 22: Người phụ nữ Canaan kêu lớn tiếng: "Xin thương xót tôi, lạy Ngài là Con Ðavít. Con gái tôi bị quỉ ám khốn khổ".[113]

QCTQ 30: "Vì là bài ca giáo dân dùng để tung hô Chúa và kêu cầu lòng thương xót của Ngài nên thường được mọi người hát".

C. Diễn tiến về vị trí của kinh Thương xót trong Thánh lễ:

Theo Albert Rouet:[114]

- Hát CNL rồi kết thúc bằng câu: Sáng danh. .

- Im lặng (do phó tế yêu cầu)

- Lm chào: Chúa ở cùng anh chị em

- Giáo dân: Và ở cùng Cha

- Hát 3 lần Thánh, Thánh, Thánh (Hát bằng tiếng Hy Bá và La tinh)

- Giáo dân thưa: Amen

- Hát Kinh Thương xót (do 3 chú nhỏ)

Theo Le Brun: Trong nghi lễ theo thánh Ambroise, sau kinh Vinh danh, người ta đọc 3 lần kinh Thương xót.[115]

Ngày nay:

- Hát CNL

- Lời chào của Lm (Chúa ở. )

- Nghi thức sám hối (đọc kinh Cáo mình)

- Ðọc hay hát kinh Thương xót

D. Cách dùng kinh Thương xót:

a) Khi nào không đọc kinh Thương xót:

"Nếu đã dùng kinh nầy trong nghi thức sám hối (số 3) thì không đọc hay hát lại".[116]

Lưu ý: Nghi thức thống hối số 3:[117]

- Lm: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã được sai đến để cứu chữa những tâm hồn sám hối, xin thương xót chúng con

- Thưa: Xin thương xót chúng con

- Lm: Lạy CG, Chúa đã đến trần gian để kêu gọi những người tội lỗi, xin thương xót chúng con

- Thưa: Xin thương xót chúng con

- Lm: Lạy CG, Chúa đang ngự bên hữu Chúa Cha để chuyển cầu cho chúng con, xin thương xót chúng con

- Thưa: Xin thương xót chúng con.

Trong nghi thức sám hối, nếu đã đọc nghi thức số 3 trên đây thì không đọc kinh Thương xót nữa.

b) Hát hay đọc:

QCTQ 30:

"Thường mỗi lời tung hô:

- được hát 2 lần, nhưng vì đặc tính các ngôn ngữ khác nhau, vì

nghệ thuật âm nhạc hay vì hoàn cảnh,

- cũng có thể hát nhiều lần

- hoặc cho xen kẻ vào một câu hát ngắn".

 

Khi đọc lại QCTQ 30, ta có thể tóm tắt:

"là bài ca tung hô nên thường được mọi người hát".

"mỗi lời tung hô được hát".

Rõ ràng là GH, tuy không bắt buộc, nhưng mong muốn chúng ta hát. Ở Pháp, có nhiều mẫu hát hoặc ngâm vịnh kinh Thương xót rất đa diện và khởi sắc.

3. KINH VINH DANH:

A. Nguồn gốc kinh Vinh danh:

Lúc đầu, kinh Vinh danh chỉ được đọc trong giờ Kinh sáng và trong lễ do GM chủ tế.[118]

Tk 2, người ta cho rằng ÐGH Télesphore truyền đọc trong lễ GS.[119]

Nhưng theo J. Juglar, kinh Vinh danh được đưa vào Thánh lễ trễ hơn, vào khoảng tk 4, du nhập từ Ðông Phương[120] sang Tây Phương, và lúc đầu chỉ hát trong lễ GS.[121]

Tk 5 - 6, "Vào thời ÐGH Simmaco (489 - 514) Ngài truyền hát kinh nầy trong các lễ CN và lễ các thánh tử đạo, nhưng còn giới hạn, chỉ khi nào các lễ đó do vị Giám mục chủ sự. Về sau thì cho phép các Linh mục hát kinh nầy trong lễ Phục sinh".[122]

Tk 6 - 7, thời ÐGH Grégoire Cả (540 - 604) kinh Vinh danh được đọc trong ngày CN và lễ trọng, trước trong lễ do ÐGH chủ tế, sau đến GM, cuối cùng Lm cũng được hát.[123]

Năm 1100 (tk 12) người ta không phân biệt GM hay Lm đọc, người ta chỉ nghe: Sau kinh Thương xót là kinh Vinh danh.[124]

Theo Pierre le Brun thì nhiều tác giả La tinh cho rằng thánh Hilaire de Poitiers là tác giả. Nhưng lý chứng của thánh Athanase[125] thì cho là không phải, vì ở thời Ngài, phụ nữ Ðông Phương đã thuộc lòng. Có lẽ kinh Vinh danh đã có trước đó và ông kết luận: Khó biết tác giả đích thực của kinh Vinh danh là ai.[126]

Khi nói chuyện quá khứ thì thật khó mà biết đâu là sự thật vì có nhiều tài liệu khác nhau và nhiều khi còn trái ngược nhau. Dù sao, mọi người cũng phải chấp nhận nguồn gốc kinh Vinh danh trong một giới hạn nào đó.

B. Nội dung kinh Vinh danh:

Theo J. Juglar, kinh Vinh danh gồm 2 phần:

Phần 1 là bài ca về Ðức Chúa Cha

Phần 2 là bài ca về Ðức Chúa Con

Và kết thúc bằng cách nhắc đến Chúa Thánh Thần.[127]

Phần nói về Ðức Chúa Cha ngắn, nhưng phần nói về Ðức Chúa Con thì dài hơn. "GH khai triển phần về Chúa Con vì khía cạnh minh giáo: Vào tk 4 và 5, có người không nhận nhân tính, có người không nhận thiên tính của Ðức Kitô, do đó, các công đồng khẳng định CG vừa là TC, vừa là người".[128]

QCTQ 31: "Kinh Vinh danh là một thánh thi rất cổ, mà GH, được đoàn tụ trong Chúa Thánh Thần, dùng để tôn vinh Chúa Cha và cầu khẩn Chiên Con".

C. Cấu trúc kinh Vinh danh:

Người ta tìm được một bản kinh Vinh danh ở tk 13 đọc trong lễ kính Ðức Mẹ với một số điểm hơi khác kinh chúng ta đọc ngày nay:[129]

Lưu ý: Chữ in đậm chỉ những khác biệt.

"Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương". Ðó là bài ca các thiên thần trong ngày Chúa giáng sinh, theo Phúc Âm thánh Luca.[130]

"Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, là con Ðức Maria".

"Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con, nhờ lời kinh sốt sắng của Ðức Maria, Mẹ Ngài".

"Chúa xoá tội trần gian, xin nhận lời chúng con cầu khẩn để chúng con làm Chúa hoàn toàn vui lòng nhờ Mẹ rất thánh Maria".

"Chúa ngự bên hữu Ðức Chúa Cha, xin thương xót chúng con nhờ lời kinh của Ðức Maria, Mẹ của Ðấng hay thương xót là Con Ngài".

"Thật chỉ có Chúa là Ðấng Thánh, chỉ Ðức Maria là người Mẹ đồng trinh".

"Chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Mẹ là Nữ Vương".

"Chỉ có Chúa là Ðấng Tối Cao, là Cha Ðức Maria và Chúa Giêsu Con Ngài".

Khi nhận định về bài hát Vinh danh và kinh Tin kính, loại rút ngắn và không theo bản văn chính thức của một Nhạc sĩ nào đó, Ðức Ông Khả viết: "Nhưng nội dung thì cả bài ca Vinh danh Thiên Chúa, và bản Kinh Tin Kính đều nói tới các kỳ công của Chúa Cha, như tạo dựng. các kỳ công của Chúa Con như Nhập thể, cứu chuộc. , các kỳ công của Chúa Thánh Thần là Ðấng từ Cha và Con mà sinh ra, đến trần gian để đổi mới, là tình yêu liên kết con người. Như vậy có sự lặp lại một nội dung về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong hai trường hợp. Ðiều nầy không đúng tinh thần của Công đồng Vaticanô II, vì việc canh tân PV muốn tránh những gì lặp lại, như bản văn, như cử chỉ, dáng điệu. Như vậy, nếu dùng hai bài nầy trong cùng một Thánh lễ thì không được ổn cho lắm".[131]

D. Cách dùng kinh Vinh danh:

a) "Kinh nầy được hát hoặc đọc

do toàn thể cộng đoàn tín hữu

hoặc luân phiên giữa dân chúng và ca đoàn

hoặc do chính ca đoàn.

Nếu không hát thì phải đọc,

hoặc mọi người đọc chung,

hoặc chia thành hai bè.

Kinh nầy được hát hay đọc

trong các Chúa Nhật ngoài Mùa Vọng và Mùa Chay,

trong các lễ trọng và lễ kính

và trong các dịp lễ khá long trọng".[132]

b) Ý kiến của HÐGM Pháp:

"Khi hát kinh Vinh danh thì cộng đoàn đứng. Cộng đoàn thuộc hàng ngũ những người ca tụng Chúa, là thân thể Ðức Kitô, Ðấng ca tụng Ðức Chúa Cha. Bài ca vinh danh coi Thiên Chúa như cứu cánh của mọi lời chúc tụng. Kinh Vinh danh là một loại tụng ca cở lớn. Do đó, đọc mà thôi thì làm mất đặc tính thi vị".

Chúng ta thừa hiểu là họ mong muốn chúng ta cố gắng hát kinh Vinh danh khi nào có thể.

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA:

Trong Phụng vụ Lời Chúa, có những phần sau đây:

Ðáp ca

Alléluia

Ca tiếp liên

Tung hô trước Tin Mừng

Kinh Tin kính

1. ÐÁP CA:

A. Ý nghĩa:

Ðáp ca là bài suy niệm nối dài hoặc mở rộng.[133]

QCTQ 36: "Sau bài đọc thứ nhất là Tv Ðáp ca, cũng gọi là Ca tiến cấp (tiến từng bước, không vội vàng). Bài ca nầy là thành phần trọn vẹn của PV Lời Chúa. Tv thường lấy ở sách các bài đọc. Vì mỗi bản văn PV đều liên quan trực tiếp với mỗi bài đọc nên việc chọn Tv tùy thuộc các bài đọc".

Lm A. M. Roguet[134] giải thích: "Gọi là Tv Ðáp ca vì Tv thường do ca đoàn hay một người xướng, còn giáo dân thì hát câu Ðáp, tức là một Ðiệp khúc ngắn lặp lại sau mỗi câu Tv. Nhưng chữ Ðáp ca có một ý nghĩ sâu xa hơn: Trong phần PV lời Chúa, TC nói với ta trước, và chúng ta hát một Tv để đáp lại. Ðây là cách để suy niệm bài đọc trước đó. Tv được PV chọn lựa tùy theo bài đọc 1, cho nên có thể coi như bài đọc 4" (Sau bài đọc 1, 2 và PÂ).

B. Người hát Tv Ðáp ca:

a) Nguồn gốc:

Ngay từ tk 4, phận vụ của người hát Tv đã được định rõ nhờ sự phát triển của Tv Ðáp ca. Như người đọc sách, người hát Tv cũng được GM phong chức và được liệt vào hàng Giáo sĩ địa phương.

Khi Vatican II tái lập Tv Ðáp ca thì đương nhiên cũng tái lập phận vụ của người hát Tv.[135] QCTQ 90: "Sau bài đọc, người hát Tv hoặc ca viên hoặc chính độc viên xướng Tv và dân chúng thưa".

b) Nhiệm vụ:

QCTQ 67: "Người hát Tv có nhiệm vụ đọc hay hát Tv hay Thánh ca Kinh thánh nào khác, xen vào giữa các bài đọc. Ðể chu toàn phận việc của mình, người xướng Tv cần có nghệ thuật đọc Tv, có khả năng phát âm và đọc cho đúng".

c) Nơi để hát Tv:

Ðáp ca không phải là bài hát của ca đoàn, nhưng là của người hát Tv. Trong một vài trường hợp, 2 hoặc 3 người (nữ) giọng giống nhau có thể hát được.[136]

QCTQ 36 b: "Người hát Tv hát tại giảng đài hay tại một nơi thuận tiện".

d) Những Tv Ðáp ca được chọn để hát thay cho bản văn thích hợp: "Tuy nhiên, để dân chúng có thể hát Tv Ðáp ca cách dễ dàng hơn, một số bản văn Ðáp ca và Tv đã được lựa chọn cho từng mùa trong năm hoặc cho từng loại thánh nhân, để mỗi khi hát Tv, có thể dùng các bản văn nầy thay cho bản văn thích hợp với bài đọc liên hệ".[137]

Lưu ý: Ðể đáp ứng nhu cầu của các Nhạc sĩ sáng tác, xin được ghi lại nơi đây bản văn những Tv Ðáp ca có thể thay thế bản văn đã chọn cho các bài đọc liên hệ vì 2 lý do: Thứ nhất vì các Ns không có Sách bài đọc và thứ hai là trong sách Bài đọc tiếng Việt, không thấy ghi số câu nên rất khó tìm.

I. CÁC CÂU ÐÁP CHUNG (Phần ÐK)

Những câu có thể dùng với bất cứ Tv nào trong mùa PV tương ứng:

1. MÙA VỌNG: Xin Chúa đến cứu chúng con.

2. MÙA GS: Lạy Chúa, hôm nay chúng con đã nhìn thấy vinh quang Chúa.

3. MÙA CHAY: Lạy Chúa, xin nhớ lại tình thương và lòng thành tín của Ngài.

4. MÙA PS: Alléluia (2 hoặc 3 lần)

5. MÙA THƯỜNG NIÊN:

a) Các Tv cảm tạ, tán tụng:

- Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa nhân từ

- Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Ngài, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu.

- Hát lên mừng Chúa một bài ca mới.

b) Các Tv cầu xin:

- Chúa gần gủi những ai kêu cầu Ngài

- Lạy Chúa, xin nhận lời và cứu độ con.

- Chúa là Ðấng từ bi và nhân hậu

II. CÁC TV ÐÁP CA CHUNG:

Các Tv nầy được dùng thay thế các Tv chỉ định trong sách Bài đọc tùy theo mùa Phụng Vụ.

1. MÙA VỌNG (Tv 24 và 84)

a) Thánh vịnh 24 (trích từ CN I Vọng / C)

ÐK. Lạy Chúa, con nâng hồn lên tới Chúa (Tv 24, 1 b)

Pk 1:

c8 Chúa là Ðấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân

c9 Dẫn kẻ nghèo hèn đi trong đường công chính,

 Dạy cho biết đường lối của Ngài

Pk 2:

c10 Tất cả đường lối Chúa đi đều là yêu thương và chính trực, đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa.

Chúa xử thân tình với những ai kính sợ Chúa

c14 Và cho họ biết đường lối của Ngài.

 

b) Thánh vịnh 84 (trích từ CN II Vọng / B)

ÐK. Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa

 Và ban ơn cứu độ cho chúng con (Tv 84, 8)

Pk 1.

c 9 Tôi lắng nghe điều TC phán.
Ðiều Chúa phán là lời Chúa bình an
Cho dân Người, cho kẻ hiếu trung
Và những ai hướng lòng trí về Người

c10 Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ
Cho những ai kính sợ Chúa,
Ðể vinh quang của Người hằng chiếu toả
Trên đất nước chúng ta

Pk 2

c11 Tín nghĩa, ân tình nay hội ngộ
Hoà bình công lý đã giao duyên

c12 Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp
Công lý nhìn xuống tự trời cao

Pk 3

c13 Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc
Và đất nước chúng ta trổ sinh hoa trái

c14 Công lý đi tiền phong trước mặt Người
Và ban ơn cứu độ cho chúng con

2. MÙA GIÁNG SINH (Tv 97, trích lễ GS ban ngày)

ÐK Toàn cõi trái đất đã xem thấy ơn cứu độ của TC chúng ta (c 3 c)

Pk 1

c1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới

 Vì Người đã thực hiện bao kỳ công

 Chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh

 Nhờ cánh tay chí thánh của Người

c3 Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa

 Dành cho những kính sợ Người

Pk 2

c5 Ðàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt,

 Nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca

c6 Kèn thổi vang lừng xen tiếng tù và,

 Tung hô mừng Chúa Vị Quân vương.

 

3. MÙA CHAY (Tv 50, 90, 129)

a) Thánh vịnh 50 (lấy ở CN I Chay / A)

ÐK. Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con (c 3 a)

Pk 1.

c3 Lạy TC, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con

 Mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm

c4 Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

 Tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy

Pk 2

c12 Lạy Chúa Trời,
xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng
Ðổi mới tinh thần cho con nên chung thủy

c13 Xin đừng nở đuổi con, không cho gần nhan thánh,
Ðừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.

Pk 3

c14 Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,

 Và lấy tinh thần quãng đại đỡ nâng con.

c17 Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
Cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.

 

b) Thánh vịnh 90 (lấy ở CN I Chay / C)

ÐK. Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự (c 15 b)

Pk 1

c1 Hỡi ai nương tựa Ðấng Tối Cao,

 Và núp bóng Ðấng quyền năng tuyệt đối,

c2 Hãy thưa vói Chúa rằng,

 Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con náu ẩn,

 Là đồn lũy chở che,

 Con tin tưởng vào Ngài.

Pk 2

c10 Bạn sẽ không gặp điều ác hại,
Và tai ương không bén mãng tới nhà,
Bởi chưng Người truyền cho Thiên sứ,

 Giữ gìn bạn trên khắp nẽo đường.

Pk 3

c14 Kẻ gắn bó cùng Ta
Sẽ được ơn giải thoát
Kẻ nhận biết Danh Ta
Sẽ được sức hộ phù.

c15 Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại
Lúc ngặt nghèo,
Có Ta ở kề bên.

 

b) Thánh vịnh 129 (Lấy ở CN V Chay / A)

ÐK. Trông cậy Chúa đi, Israel hỡi (c 7)

Pk 1

c1 Từ vực thẳm con kêu lên Ngài, lạy Chúa

c2 Muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con

 Dám xin Ngài lắng tai để ý,

 Nghe lời con tha thiết nguyện cầu

Pk 2

c3 Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội

 Nào có ai đứng vững được chăng

c4 Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ

 Ðể chúng con biết kính sợ Ngài

Pk 3

c7 Trông cậy Chúa đi, Israel hỡi

 Bởi Chúa luôn từ ái một niềm

 Ơn cứu chuộc nơi Ngài chan chứa

c8 Chính Ngài sẽ cứu chuộc Israel,

 Cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn

 

4. MÙA PHỤC SINH

a) Tv 117 (lấy ở lễ PS ban ngày)

ÐK. Ðây là ngày Chúa đã làm ra

Nào ta hãy vui mừng hoan hỉ (c 24)

Pk 1

c1 Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ

 Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương

c2 Nào Israel, hãy nói lên rằng

 Muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương

Pk 2

c3 Nhà Aaron, hãy nói lên rằng

 Muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương

c4 Ai kính sợ Chúa, hãy nói lên rằng

 Muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương

Pk 3

c5 Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa

 Chúa đáp lời và giải thoát tôi

c6 Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì

 Hỏi người đời làm chi tôi được

 

b) Tv 65 (lấy ở CN 6 PS / A)

ÐK. Cả trái đất, hãy tung hô Chúa (c 1)

Pk 1

c1 Cả trái đất, hãy tung hô Chúa

c2 Ðàn hát lên mừng Danh thánh rạng ngời

 Nào dâng lời ca tụng tôn vinh

c3 Hãy thưa cùng Thiên Chúa

 Khủng khiếp thay sự nghiệp của Ngài

 Trước thần lực uy hùng

 Ðịch thù khúm núm

Pk 2

c4 Toàn trái đất phải quì lạy tôn thờ

 Và đàn ca mừng Chúa

 Ðàn ca mừng Thánh Danh

c5 Ðến mà xem công trình của Thiên Chúa

 Hành động của Người đối với phàm nhân

 Thật đáng kinh đáng sợ

Pk 3

c6 Chúa làm cho biển khơi hóa đất liền

 Và dân Người đi bộ qua sông

 Việc Người làm đó khiến ta hoan hỉ

c7a Chúa uy dũng hiển trị muôn đời

c16 Tất cả những ai kính sợ Chúa
Ðến mà nghe tôi kể
Việc Chúa đã làm để giúp tôi

5. MÙA THƯỜNG NIÊN

a) Tv 18 B (Lấy ở CN 3 / C)

ÐK. Vì chưng từ đầu, Chúa Giêsu đã biết
Ai là những kẻ không tin
Và ai sẽ là kẻ sẽ nộp Ngài (Ga 6, 64 b)

Pk 1

c8 Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện

 Bổ sức cho tâm hồn

 Thánh ý Chúa thật là vững chắc

 Cho người dại nên khôn

c9 Huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng

 Làm hoan hỉ cõi lòng

 Huấn lệnh Chúa xiết bao minh bạch

 Cho đôi mắt rạng ngời

Pk 2

c10 Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng
Tồn tại đến muôn đời
Quyết định Chúa phù hợp Chân lý
Hết thảy đều công minh

 

Pk 3

c10 Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng
Tồn tại đến muôn đời
Quyết định Chúa phù hợp Chân lý
Hết thảy đều công minh

b) Tv 26 (lấy ở CN 3 / C)

ÐK. Chúa là ánh sáng và ơn cứu độ tôi,

Tôi còn sợ người nào (c 1 a)

Pk 1

c1 Chúa là ánh sáng và ơn cứu độ tôi
Tôi còn sợ người nào
Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi
Tôi khiếp gì ai nữa

Pk 2

c4 Một điều tôi kiếm, tôi xin
Là luôn được ở trong đền Chúa tôi
Mọi ngày trong suốt cuộc đời
Ðể chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
Ngắm xem thánh điện huy hoàng

Pk 3

c13 Tôi vững vàng tin tưởng
Sẽ được thấy ân lộc Chúa ban
Trong cõi đất dành cho kẻ sống

c14 Hãy cậy trông vào Chúa
Mạnh bạo lên, can đảm lên nào
Hãy cậy trông vào Chúa

c) Tv 33 (lấy ở CN 19 / B)

ÐK. Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy (c 9 a)

Pk 1

c2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa
Câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi

c3 Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa
Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên

Pk 2

c4 Hãy cùng tôi ngợi khen Ðức Chúa
Ta đồng thanh tán tụng Danh Người

c5 Ta đã tìm kiếm Chúa và Người đáp lại
Giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng

Pk 3

c6 Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở
Không bao giờ bẻ mặt hổ ngươi

c7 Kẻ nghèo nầy kêu lên và Chúa đã nhận lời
Cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn

d) Tv 63 (lấy ở CN 12 / C)

ÐK. Xin giữ gìn mạng con khỏi quân thù khủng bố (c 2 b)

Pk 1

c2 Lạy Chúa Trời, xin nghe tiếng thở than,
Giữ gìn mạng con khỏi quân thù khủng bố

Pk 2

c3 Nầy kẻ ác mưu đồ, chúng ồn ào tác hại
Xin giấu kỹ con đi

c4 Chúng mài lưỡi như mài gươm sắc
Lời thâm độc tựa tên lắp vào cung

Pk 3

c5 Bắn trộm người vô tội
Bắn thình lình mà chẳng sợ chi

c6 Chúng quyết tâm làm điều độc dữ
Bàn luận xem gài bẩy thế nào
Rồi nhỏ to ai mà thấy được

e) Tv 94 (Lấy ở CN 4 / B)

ÐK. Các ngươi chớ cứng lòng
Như tại Mêriba,
Như ngày ở Maxa trong sa mạc (c 8)

Pk 1

c1 Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa
Tung hô Người là núi đá độ trì ta

c2 Vào trước thánh nhan dâng lời cảm tạ
Cùng tung hô theo điệu hát cung đàn

Pk 2

c6 Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục
Quì trước tôn nhan Chúa là Ðấng dựng nên ta

c7 Bởi chính Người là TC ta thờ
Còn ta là dân Người lãnh đạo
Là đoàn chiên tay Người dẫn dắt

Pk 3

c8 Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng
Như tại Mêriba
Như ngày ở Maxa trong sa mạc

c9 Nơi tổ phụ các ngươi đã từng thử thách
Và dám thử thách Ta
Dù đã thấy những việc Ta làm

f) Tv 99 (lấy ở CN 11 / A)

ÐK. Ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt (c 3 c)

 

Pk 1

c2 Phụng thờ Chúa với niềm hoan lạc
Vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo

Pk 2

c3 Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Ðế
Chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người
Ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt

Pk 3

c5 Bởi vì Chúa nhân hậu
Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương
Qua bao thế hệ vẫn một niềm thành tín

g) Tv 102 (lấy ở CN 7A)

ÐK. Chúa là Ðấng từ bi nhân hậu (c 8 a)

Pk 1

c1 Chúc tụng Chúa đi hồn tôi hỡi
Toàn thể thân tôi, hãy chúc tụng thánh danh

c2 Chúc tụng Chúa đi hồn tôi hỡi
Chớ khá quên mọi ân huệ của Người

Pk 2

c3 Chúa tha cho ngươi muôn vàn tội lỗi
Thương chữa lành các bệnh tật ngươi

c4 Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt
Bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà

Pk 3

c8 Chúa là Ðấng từ bi nhân hậu
Người chậm giận và giàu tình thương

c10 Người không cứ tội ta mà xét xử
Không trả báo ta xứng với lỗi lầm

 

h) Tv 144 (lấy ở CN 14 / A)

ÐK. Ai quị ngã, Chúa đều nâng đỡ

Kẻ bị đè nén, người cho đứng thẳng lên (c 14)

Pk 1

c1 Lạy TC con thờ, là Vua của con
Con nguyện tán dương Chúa
Và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở, muôn đời

c2 Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa
Và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở, muôn đời

Pk 2

c8 Chúa là Ðấng từ bi nhân hậu
Người chậm giận và giàu tình thương

c9 Chúa nhân ái đối với mọi người
Tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên

Pk 3

c10 Lạy Chúa,
muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời cảm tạ
Kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài

c11 Nói lên rằng triều đại Ngài vinh hiển
Xưng tụng Ngài là Ðấng quyền năng.

2. CA TIẾP LIÊN: (Graduel, Séquence)

Ðây là bài ca xen giữa 2 bài đọc, thường là giữa bài đọc 2 và PÂ,[138] là bài hát sau bài đọc Thánh thư[139] và là một ca khúc vần được hát trước Alléluia. Ví dụ bài "Victimae Pascali".[140]

Nếu ca viên hát một mình từ đầu đến cuối thì gọi là ca liên tục (trait). Nếu ca viên ngắt quãng cho ca đoàn hay cộng đoàn cùng hát thì gọi là hát đối đáp (Répons).[141]

Vào tk 4, người ta bỏ Ca tiếp liên và thay bằng Alleluia.[142] Ngày nay, Ca tiếp liên chỉ thấy được ghi cho lễ PS và lễ Hiện Xuống.

QCTQ 40: "Ca tiếp liên, ngoài lễ PS và lễ Hiện xuống thì được tùy ý".

3. ALLELUIA:

A. Nguồn gốc:

Theo Sách Tôbia: "Trong thời cuối cùng của GH hay thời Giêrusalem mới, ta nghe khắp nơi vang tiếng Alleluia".[143]

Thánh Gioan: "Ðó là bài ca trên trời. Ta tham dự vào niềm vui trên trời".[144]

Người Do Thái đọc 1 Tv cùng với Alleluia khi kỷ niệm biến cố Vượt qua.

Trong PV tk 4, người ta hát trước Phúc Âm và thay thế Ca tiếp liên.

Từ tk 10, người ta hát Alleluia, 1 câu Tv rồi hát lại Alleluia.[145]

B. Ý nghĩa của Alleluia:

Lời tung hô nầy hướng tới bài đọc sau đó tức bài Phúc Âm.[146]

Alleluia là tiếng Hy Bá: Hallelou - Yah có nghĩa là ngợi khen Chúa.

Lưu ý: Chúng ta đừng tách như thế nầy vì vô nghĩa: Alle, Allelu-ia (nhưng Allelu: ngợi khen; Yah: Chúa)

Ðây là bài ca hát ở trên trời, bài ca vui. Ở đời, ta hát để được an ủi.[147]

Khi hát Alleluia, thường người ta hát 2 lần. Alleluia lần đầu có ý khuyến khích mọi người ca tụng Chúa; Alleluia lần cuối là để diễn tả niềm vui".[148]

C. Cách dùng Alleluia:

I. Vị trí Alleluia:

Alleluia nằm ở sau bài đọc 1 (nếu là lễ thường)

hoặc sau bài đọc 2 (nếu là CN hay lễ trọng)

Alleluia là bài hát nhằm hỗ trợ cuộc rước trước PÂ (Rước sách PÂ về giảng đài)

II. Cách dùng:

a) Trong mùa phải đọc Alleluia, người ta có thể theo công thức:

Alleluia + 1 đoản thi + Alleluia

Lưu ý: Alleluia là câu tung hô; đoản thi là 1 câu Tv hay 1 câu trích trong sách thánh khác, rồi lặp lại Alleluia.

Ví dụ: All, All. Ðây là ngày Chúa đã làm ra,

Nào ta hãy vui mừng hoan hỉ (Tv 117, 24). All.

b) Trong mùa không đọc Alleluia, người ta có thể theo công thức:

Câu tung hô + 1 đoản thi + Câu tung hô

Ví dụ về câu Tung hô trước Tin Mừng:

Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần trí và là sự sống (câu Tung hô)

Ed 33, 11: Ngài không muốn người tội lỗi phải chết,

Ngài muốn họ bỏ đường cũ và được sống (đoản thi)

Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần trí và là sự sống (lặp lại câu tung hô)

c) Hát hay đọc trong mùa nào

"Alleluia được hát trong các mùa ngoài mùa Chay".[149]

d) Ai hát

"Hết mọi người hoặc ca đoàn hay ca viên".[150]

e) Tại sao trong mùa Chay lại không được hát Alleluia ?

"Không hát Alleluia trong mùa Chay là để phấn khởi mà thưởng thức lại trong mùa Phục sinh".[151]

Thánh Augustin nói: "Chúng ta không hát Alleluia trước lễ PS vì thời kỳ Chúa chịu nạn diễn tả thời đau buồn của cuộc sống đời nầy, còn ngày Chúa PS diễn tả niềm hạnh phúc mà một ngày kia, chúng ta sẽ được chung hưởng".[152]

Theo J. Juglar:[153] "Hát Alleluia trong mùa PS vì mùa nầy là mùa hồng phúc, là ngày Sabát vĩnh cữu, là ngày thứ bảy nghỉ. Trong ngày đó, phải nghỉ mọi việc ngoại trừ việc ca tụng Chúa. Alleluia là bài ca từ trời, bài ca vui".

Thánh Benoit cho rằng: "Từ PS đến Hiện xuống, Alleluia được xướng lên không ngừng, trong các Tv cũng như trong Ðáp ca".[154]

III. Nên hát hay đọc:

QCTQ 39: "Thánh vịnh theo sau bài đọc (tức Ðáp ca) nếu không hát thì đọc

Còn Alleluia hay lời Tung hô Tin Mừng, nếu không hát thì có thể bỏ".

Khi hát Alleluia, mọi người đứng vì đó là tư thế của Ðấng đã sống lại.[155]

"Alleluia là bài ca tạ ơn TC, là bài ca Tiệc cưới Con Chiên. . là bài ca từ trời, bài ca vui".[156]

Chúng ta phải cố gắng hát Alléluia là điều hợp lý.

4. KINH TIN KÍNH:

A. Nguồn gốc:

Lúc đầu, có kinh Tin kính các Tông đồ.

Năm 325, kinh Tin kính công đồng Nicée.

Tk 6, kinh Tin kính công đồng Constantinople.

Tk 7, kinh Tin kính thánh Athanase.

Kinh Tin kính chỉ được dùng trong nghi lễ Rôma vào tk 11.[157]

Lúc đầu, kinh Tin kính chỉ dành cho các người được rửa tội. Do đó, người ta dùng ở số ít "TÔI": Mỗi người tin và dấn thân.

Theo Pierre Loret, kinh Tin kính các Tông đồ thường được đọc trong giờ kinh Sáng và kinh Chiều.[158]

Kinh Tin kính công đồng Nicée thường được đọc trong lễ CN và lễ trọng. Kinh nầy xuất phát từ Ðông Phương vì phải đối đầu với các Lạc giáo.[159]

B. Ý nghĩa:

Kinh Tin kính không phải là cách tính các khoản phải tin, cũng không phải là bản tóm các tín điều: Ðó là bản tóm lịch sử thánh, từ tạo dựng đến cuộc sống vĩnh hằng, qua Nhập thể, CTT hiện xuống, mầu nhiệm GH và các bí tích. Ðó là bản tóm Mầu nhiệm cứu chuộc.[160]

"Kinh Tin kính cũng gọi là lời tuyên xưng đức tin, trong khi cử hành Thánh lễ, nhằm làm cho giáo dân chấp nhận và đáp lại Lời Chúa mà họ đã nghe trong các bài đọc và bài diễn giảng; đồng thời nhắc cho họ nhớ lại luật đức tin trước khi cử hành phần PV Thánh Thể".[161]

Như vậy, kinh Tin kính có 2 mục đích: một là giúp giáo dân chấp nhận và đáp lại Lời Chúa đã nghe trong thánh lễ; hai là giúp họ nhớ lại những điều đã tin.

C. Những kinh Tin kính thường dùng:

Ngày nay, GH chỉ dùng Kinh Tin kính của các Tông đồ và của công đồng Nicée trong CN và lễ trọng, cùng với mẫu tuyên xưng đức tin trong ngày rửa tội dưới hình thức hỏi thưa, được dùng trong đêm Vọng Phục Sinh.

a) Kinh Tin kính của các Tông đồ:

Kinh nầy đã có từ 3 thế kỷ đầu. Người Công giáo thuộc lòng, nhưng không viết ra vì sợ người bên lương biết.

Kinh nầy là bản tóm Giáo lý Công giáo, thuộc đức tin. Kinh Tin kính phân biệt kẻ tin và người không tin. Kinh nầy do các Tông đồ soạn và được đọc trong giờ đọc kinh.[162]

b) Kinh Tin kính công đồng Nicée:

Arius không nhận Thiên tính của Ngôi Lời. Các nghị phụ họp công đồng Nicée lần 1[163] để chống lại lạc giáo nầy. Các Ngài giải thích và bàn rộng những khoản trong kinh Tin kính các Tông đồ nói đến Ngôi Con và kết kinh Tin kính bằng câu "Et in Spiritum Sanctum" (Và trong Chúa Thánh Thần).[164]

D. Cách dùng Kinh Tin kính:

a) Dùng trong lễ nào:

"Kinh Tin kính phải do Lm đọc chung với giáo dân vào các ngày CN và lễ trọng; cũng có thể đọc trong những lễ đặc biệt khá trọng thể. Nếu hát, thì thường mọi người cùng hát, hoặc hát luân phiên".[165]

b) Nên hát hay nên đọc:

HÐGM Pháp viết "Rất ít thấy những bài hát kinh Tin kính hay bằng tiếng Pháp. Cách thức mọi người hát các ÐK xen kẻ với một người đọc các phần kinh Tin kính không tạo được sự đồng tâm nhất trí mà nghi lễ đòi hỏi. Việc dùng một bài thánh ca để hát thay thế Kinh Tin kính thì hoàn toàn không thể chấp nhận được vì nó làm cho cộng đoàn xa cách với đức tin truyền thống. Việc đối đáp xen kẽ giữa hai phe trong giáo dân thì được nhưng giữa chủ tế và giáo dân thì không. Chủ tế nên nhớ rằng mình cũng là thành phần trong việc tuyên xưng đức tin của cộng đoàn nên đừng đứng gần Micro để tiếng mình không lấn át tiếng cộng đoàn".

QCTQ 42 viết: "Nếu hát thì thường mọi người cùng hát, hoặc hát luân phiên".

c) Lý do đọc Kinh Tin kính trong một số ngày:

- vì có đông tín hữu:

Ðọc ngày CN vì đông người

- vì tương quan giữa kinh Tin kính và ngày lễ:

Ðọc trong ngày lễ Ðức Mẹ vì Ngài được nhắc đến và nhất là vì đông người.

Ðọc trong lễ kính các thánh Tông đồ vì các Ngài truyền dạy đức tin.

Ðọc trong ngày lễ các Tiến sĩ vì họ giải thích và bênh vực GH.


 

 

CHƯƠNG HAI
PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

 

Sau khi đọc lời nguyện Tiến lễ để kết thúc phần Dâng lễ thì "Bây giờ bắt đầu điểm trung tâm và cao nhất của toàn bộ việc cử hành nghĩa là chính kinh Tạ ơn".[166]

Trong phần PV Thánh Thể, chúng ta đề cập:

PHẦN A: DÂNG LỄ:

PHẦN B: KINH TẠ ƠN:

I. Kinh Thánh, Thánh

II. Kinh tưởng niệm

III. Vinh tụng ca

PHẦN C: HIỆP LỄ:

I. Kinh Lạy Chiên TC

II. Bài ca Hiệp lễ

PHẦN A: DÂNG LỄ:

1. Nguồn gốc:

Xưa, lúc dâng lễ, tân tòng và người sám hối không được tham dự.[167]

2, 3 thế kỷ đầu, trong nghi thức dâng lễ, người ta chỉ dâng bánh rượu.

Người ta dâng lễ trong im lặng cho đến tk 4. Sau đó, thời thánh Augustin, ở Carthage, người ta hát một thánh thi trích từ Tv khi dâng lễ và rước lễ. Cách hát trong lúc Dâng lễ lan tràn khắp GH La tinh.[168] Trong thế kỷ nầy, nghi thức dâng lễ có mở rộng[169]: Chính giáo dân dâng bánh rượu như để chính họ tham dự vào lễ tế.[170]

Tk 7 - 8, nghi thức giáo dân dâng lễ rất quan trọng, có luật lệ tỉ mỉ.[171]

Về Dâng lễ, mãi đến tk 9, Sách Ordre romain có ghi: "Trong khi ca đoàn hát Ca dâng lễ với các PK thì giáo dân, trước hết là đàn ông rồi đến đàn bà đặt lễ vật bánh rượu lên chiếu trắng.[172]

Tk 9 -11, việc giáo dân dâng lễ bị bãi bỏ[173] nhưng sau đó đã được tái lập, nhất là thời Vatican II.

2. Cách hát ca dâng lễ:

"Khi rước lễ phẩm lên thì hát ca tiến lễ và kéo dài bài hát ít là cho tới khi đặt lễ phẩm trên bàn thờ. Qui luật về cách hát Ca tiến lễ cũng giống như cách hát CNL. Nếu không hát thì bỏ luôn Ca tiến lễ".[174]

PHẦN B: KINH TẠ ƠN

I. KINH THÁNH, THÁNH:

1. Nguồn gốc:

Thánh Gioan cho rằng các thánh hát mãi kinh nầy.[175]

Trong một thị kiến, Isaia nghe các Thiên thần hát.[176]

Từ tk 6, ÐGH Sixte I truyền dân chúng hát kinh Thánh, Thánh, Thánh.[177]

2. Ý nghĩa:

Kinh Thánh Thánh, Thánh là một hành vi tôn thờ.[178]

Theo Philippe Robert thì đó là bài ca tụng Chúa phục sinh.[179]

Theo Cl. Duchesneau, thì đây là phần quan trọng nhất trong Thánh lễ vì là phần đầu của Kinh nguyện Thánh Thể.[180]

3. Cấu trúc:

Câu "Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là TC các đạo binh, Trời đất đầy vinh quang Chúa".

Trong Is 6, 3 chỉ là: "Trái đất đầy vinh quang Chúa".

GH thêm chữ Trời nên trở thành: "Trời đất đầy vinh quang Chúa".

Câu "Hoan hô Chúa trên các tầng trời"

J. Juglar cho rằng câu nầy vay mượn ở Tv 117, 25-26 và có nghĩa là: "Lạy Chúa, xin cứu vớt chúng con".[181]

Câu "Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến" trích từ

Tv 117, 26: Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến

Từ nhà Chúa, chúng tôi chúc lành cho anh em.

4. Hát hay đọc:

"Toàn thể cộng đoàn hợp cùng các thần thánh trên trời, hát hay đọc Thánh, Thánh, Thánh. Lời tung hô nầy là thành phần của chính kinh Tạ Ơn, nên cả giáo dân và Lm cùng hát hay đọc".[182]

Theo J. Juglar thì kinh Tiền tụng là bài ca riêng của chủ tế, diễn tả một niềm vui có giới hạn nên cung Nhạc đơn giản, vui tươi, trang trọng, còn kinh Thánh, Thánh, Thánh diễn tả niềm vui chung của cộng đoàn nên ít nhất là vào tk 11, 12, người ta đã hát với cung điệu Bình ca chải chuốt (kéo dài) và còn hơn thế nữa là hát theo lối Nhạc đa âm. Vào cuối thời Trung cổ, người ta còn đệm đàn Orgue, không phải chỉ để phụ hoạ mà thôi, nhưng còn để nhấn mạnh đặc tính vui tươi, phấn khởi.[183]

HÐGM Pháp viết: "Trong thực hành, cộng đoàn phải lập tức lên tiếng tung hô vì Kinh Tiền tụng quả quyết: Chúng ta đồng thanh ca tụng rằng".

Câu kết Kinh Tiền tụng có nhiều mẫu:

Không ngừng tung hô rằng.[184]

Ðồng thanh ngợi khen chúc tụng rằng.[185]

En chantant (disant) d'une seule voix (Kntt 2): Ðồng thanh ca tụng (chúc tụng) rằng

Dieu, nous te chantons (KNTT 4): Chúng con ca tụng rằng.

Chúng ta thấy, trong sách lễ bằng tiếng Pháp, người ta hay dịch là ca tụng rằng (en chantant). Có một vài Kinh Tiền tụng, người ta viết là en chantant (disant). Disant (Tung hô) luôn nằm trong ngoặc đơn. Bản dịch kinh Tiền tụng của họ thiên về hát Kinh Thánh Thánh.

II. KINH TƯỞNG NIỆM:[186]

1. Ý nghĩa:

"Nhờ việc tưởng niệm, khi thi hành mệnh lệnh đã lãnh nhận từ Ðức Kitô qua các Tông đồ, Hội Thánh tưởng niệm chính Ðức Kitô, nhất là nhắc lại cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ, sự sống lại vinh hiển và lên trời của Người".[187]

HÐGM Pháp: "Kinh tưởng niệm kết thành chóp đỉnh việc tuyên xưng đức tin vì mỗi người nhận mình được cứu độ nhờ Ðức Kitô" (Tờ rời)

2. Hát hay đọc:

Có 3 mẫu:

Mẫu 1: Ðây là mầu nhiệm đức tin

Mẫu 2: Chúng ta hãy tuyên xưng mầu nhiệm đức tin

Mẫu 3: Cao cả thay mầu nhiệm đức tin.

Mỗi mẫu đều nhắc đến 3 khía cạnh của mầu nhiệm cứu độ: sự chết, sự sống lại và sự kiện Ðức Kitô lại đến.

Vậy, Kinh tưởng niệm đúng nghĩa khi:

- nhắc đến sự chết và sự sống lại của Ðức Kitô, chứ không phải của ai khác.

- nói tới việc mong chờ ngày Ngài lại đến.

HÐGM Pháp viết: "Lm hát lời mời gọi nhưng không cùng hát kinh Tưởng niệm với cộng đoàn vì chính Ngài, với tư cách là chủ tế, dâng kinh Tưởng niệm lên Ðức Chúa Cha".

Cung điệu kinh tưởng niệm phải trang nghiêm, thành kính, tránh những gì làm cộng đoàn lo ra.

III. VINH TỤNG CA:[188]

"Vinh tụng ca kết thúc kinh Tạ ơn: Ðây là lời chúc vinh Thiên Chúa, được giáo dân tán đồng và kết thúc bằng lời Tung hô".[189]

1. Ý nghĩa:

- "Chính nhờ ÐK, cùng với ÐK và trong ÐK.": ÐK là Ðấng Trung gian. Chính cùng với Ngài mà chúng ta tôn vinh Chúa Cha.

- "Cùng với CTT.": Nhờ CTT, chúng ta trở nên của lễ ca tụng Chúa Cha.

- Tiếng "Amen" ở đây không có nghĩa là "Xin được như ý nguyện" (Ainsi soit-il) nhưng có nghĩa là "đúng như vậy, chúng con tin chắc như vậy" vì đây là lời xác quyết của cộng đoàn.[190]

2. Hát hay đọc:

HÐGM Pháp: "Khi hát Vinh tụng ca, dân chúng liên kết với Lm trong lời ca tụng và thưa tiếng Amen mà chính Chúa đã ban tặng. . Hai vần trong tiếng Amen thật quá ngắn để diễn tả sự tham dự của cộng đoàn nên cần hát nhiều lần tiếng Amen".

PHẦN C: HIỆP LỄ

I. KINH LẠY CHA:

1. Mục đích:

Ðây là kinh chuẩn bị cho việc Rước lễ.

Ngày xưa, Giáo Hội cho rằng, muốn đọc kinh nầy cho hiệu quả thì trước hết, chúng ta phải làm hoà với Chúa và con người. Optat de Milève nói rằng, ngay sau phần Lễ qui, GM hay Lm đặt tay để tha tội cho những người cần được hoà giải rồi hướng về bàn thờ để đọc kinh Lạy Cha.[191]

QCTQ 56: "Trong kinh nầy, ta xin Chúa ban bánh hằng ngày, Bánh nầy đới với Kitô hữu còn ám chỉ bánh Thánh Thể

Lại xin Chúa thanh tẩy tâm hồn cho khỏi mọi tội lỗi, hầu của thánh thực sự được ban cho những người thánh".

2. Hát hay đọc:

Ngày xưa, trong GH La tinh, chỉ Lm đọc hay hát. Ðối với GH Hy lạp thì mọi người cùng hát.[192]

"Lời mời cầu nguyện, chính kinh Lạy Cha, kinh khẩn xin và lời chúc vinh mà giáo dân dùng để kết thúc được hát hay đọc rõ tiếng".[193]

HÐGM Pháp: "Trước khi trở thành bài ca thì kinh Lạy Cha là kinh chính CG đã dạy. Bài nầy thường là hát chung và cung hát giống như cung đọc. Người ta đọc kinh Lạy Cha chỉ vì không thuộc cung hát".

II. KINH LẠY CHIÊN TC:

1. Ý nghĩa kinh Lạy Chiên Thiên Chúa:

Chúa Giêsu như Con Chiên:

- Gioan 1, 29: "Hôm sau, ông thấy Ðức Giêsu đến với ông thì nói: Nầy là Chiên TC, Ðấng xóa tội trần gian".

- Is 53, 7:[194] "Như Con Chiên bị đem đi xén lông...".

- Kh. 14, 1: "Tôi còn mãi nhìn thì nầy, Chiên Con đứng trên núi Sion...".

Kinh Lạy Chiên TC luôn đi kèm với nghi thức bẻ bánh.

2. Ý nghĩa của nghi thức bẻ bánh:

a) Cử chỉ bẻ bánh:

- Trong bữa Tiệc ly (bữa ăn cuối)

- Trong quán ở làng Emmaus.

b) Ý nghĩa:

"Cử chỉ bẻ bánh mà ÐK đã thực hiện trong bữa tối sau hết đã trở thành tên gọi của Thánh lễ vào thời các Tông đồ. Nghi thức nầy không phải chỉ có lý do thực tiễn mà còn nói lên rằng: Chúng ta tuy nhiều nhưng vì hiệp thông cùng một bánh ban sự sống là ÐK nên trở thành một thân thể".[195]

- Bẻ bánh là dấu chia sẻ

- Bẻ bánh có nghĩa là Thân thể ÐK tự hiến cho con người. Thân thể ÐK bị bẻ ra trong Thánh lễ cũng chính là Thân thể ÐK bị bẻ ra (bị trao nộp) trên Thánh giá.[196]

3. Hình thức kinh Lạy Chiên TC:

Kinh nầy thuộc hình thức kinh cầu (đọc bao nhiêu lần tùy ý). Trong nghi thức cũ vùng Milan, kinh nầy là lối diễn rộng câu "Lạy Chiên TC". Ví dụ:

- Lạy Chiên TC

- Lạy Chiên giao ước đời đời

- Lạy Chiên đã chiến thắng tội lỗi (A. 240-1)[197]

4. Hát hay đọc:

Lạy Chiên TC là bài hát nghi thức vì nó đi kèm với nghi thức bẻ bánh của Linh mục.

"Ðang khi bẻ bánh và bỏ một phần vào chén thánh thì ca đoàn hay ca viên thường hát đối đáp hay đọc lớn tiếng kinh Lạy Chiên TC và giáo dân đáp lại. Kinh nầy có thể được lặp đi lặp lại bao lâu còn cần, để kèm theo việc bẻ bánh. Lần cuối cùng kết thúc bằng câu: Xin ban bình an cho chúng con".[198]

Theo tinh thần của HÐGM Pháp thì khi đang chúc bình an, không nên hát kinh Lạy Chiên TC. Chỉ sau khi đã ban bình an và bắt đầu bẻ bánh thì mới hát. Ở đây, họ chỉ dùng chữ hát và không nhắc đến chữ đọc lớn tiếng như trong QCTQ. Nhưng đó cũng chỉ là đề nghị.

III. BÀI CA HIỆP LỄ:

1. Ý nghĩa:

"Bài ca nầy có mục đích diễn tả sự đồng tâm hiệp nhất thiêng liêng giữa những người rước lễ, khi họ đồng thanh ca hát, đồng thời biểu lộ niềm vui trong tâm hồn và làm cho việc tiến lên rước Mình Thánh Chúa có tính cách huynh đệ hơn".[199]

2. Hát khi nào:

"Ca Hiệp lễ bắt đầu khi Lm rước lễ và tùy nghi kéo dài đang khi giáo dân rước lễ. Nếu có hát bài ca nào sau khi rước lễ thì phải kết thúc bài ca Hiệp lễ vào đúng lúc".[200]

 

PHẦN BA:
THÁNH NHẠC
THEO HIẾN CHẾ VỀ PHỤNG VỤ THÁNH
[201]

Trong lời giới thiệu Hiến chế về PV thánh, số 6, có ghi: "Chương VI và VII dành cho Thánh nhạc và Thánh nghệ là một trong những phần nòng cốt của PV". Chúng ta tìm hiểu chương liên hệ là chương VI bàn về Thánh Nhạc.

Gerard Kock[202] cho rằng Chương VI trong Hiến chế về PV thánh[203] của Vatican II đã mở ra một viễn tượng rất mới. Ta có thể nói rằng Công đồng đã tạo một bước ngoặc rất đặc biệt. Ðiểm chủ chốt trong chương nầy là số 112 vì nó đánh giá lại vai trò âm nhạc trong PV. Nhạc không còn là thứ trang trí nhưng làm nên thành phần của PV. Nhạc lại trở nên chính PV.[204]

Hucke cho rằng câu: "Truyền thống âm nhạc của toàn thể GH đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi diễn tả nghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca, làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong PV trọng thể"[205] có tính cách mạng vì nó không coi TN như yếu tố nội tại, thuần âm nhạc hay thuần thẩm mỹ nữa nhưng là yếu tố PV.[206] Vài câu trích dẫn trên đây giúp ta thấy phần nào sự quan trọng trong cái nhìn mới về Thánh nhạc của Vatican II. Bây giờ, chúng ta lần lượt bàn đến những đề mục sau đây:

1. "Truyền thống Âm Nhạc của toàn thể GH đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá".[207]

De Musica[208], xếp loại TN như sau:

a) Bình ca (Phải hát trong PV, số 5)

b) Thánh nhạc Ða âm (có chia ô nhịp, nhiều bè, không đệm đàn, số 6)

c) TN hiện đại (nhiều bè, có đệm nhạc, số 7)

d) TN cho đại phong cầm (số 8)

e) Nhạc bình dân tôn giáo (đôi khi được dùng trong PV, số 9)

f) Nhạc tôn giáo (Không được dùng vì tác giả không có ý sáng tác cho PV và nét nhạc quá tự do, số 10)

Theo bảng liệt kê trên đây thì Nhạc tôn giáo (f) không thuộc kho tàng TN.

Quan niệm TN là "kho tàng vô giá" chỉ mới có cách đây chừng 50 năm. Quan niệm nầy hình như chưa được đề cập đến trong tài liệu chính thức của GH và phải chờ đến Hiến chế về PV thánh của Vatican II mới được bàn tới.[209]

2. "Kho tàng âm nhạc vượt hẵn mọi diễn tả nghệ thuật".[210]

GM F. Romita bình luận về Musicae Sacrae disciplina[211] trong Ðại hội TN quốc tế lần 3 năm 1957: "Một nhà kiến trúc không có đức tin, vẫn xây được nhà thờ miễn là người ta cho biết rõ kế hoạch. Trái lại, một hoạ sĩ hay nhà điêu khắc không thể diễn tả những thực tại mà họ không am hiểu. Còn đối với nhạc sĩ thì sự truyền đạt tâm trạng của mình còn trong sáng và gây nhiều ấn tượng hơn, nên họ không thể diễn tả những thực tại mà họ không cảm nghiệm".[212]

Ðiều ta cần biết là GH đã đặt nặng vấn đề đạo đức nơi những người làm công tác nghệ thuật, nhất là TN. Ai càng có lòng đạo thì những sáng tác của họ càng đượm nét thánh thiện và càng gây được nhiều lợi ích cho người nghe.

TN vượt hẳn các nghệ thuật khác ở chỗ đó.

3. "Ðiệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong PV Thánh Thể".[213]

 

Muốn hiểu đoạn nầy, chúng ta sẽ bàn đến diễn tiến quan niệm về TN và nhận định về TN theo Vatican II:

 

a) Diễn tiến quan niệm về TN:

- Trong tự sắc Tra le Sollicitudine[214] thì Thánh nhạc chỉ là tôi tớ hèn mọn: "Bổn phận chính yếu của âm nhạc là mặc cho bản văn thánh một giai điệu thích hợp" (coi lời quan trọng hơn nhạc). Trong Divini Cultus[215] thì TN là tôi tớ sang trọng (cũng coi lời quan trọng hơn nhạc).

- Với Musicae Sacrae Disciplina[216], Ðức Piô XII coi bài hát thánh ở chổ thích ứng giai điệu cách chặt chẽ với bản văn thánh của PV để cho bài hát phù hợp với lời và diễn tả được sức sống cũng như hiệu quả của lời (vẫn coi lời quan trọng hơn nhạc)

- Với Hiến chế về PV thánh, Vatican II kết hợp nhạc với lời cách chặt chẽ hơn và đặt cả hai trong cùng một hành vi PV "Ðiệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong PV Thánh Thể".[217]

B. Nhận định về TN theo Vatican II:

- Theo Hucke thì Huấn thị có tên đầy đủ là: Instructio de Musica in sacra Liturgia (Huấn thị về nhạc trong PV thánh). Vậy là khác với Huấn thị 1955: De Musica Sacra et Sacra Liturgia. Huấn thị của Vatican II tránh dùng chữ Thánh Nhạc và trong bản văn thì dùng với những dè dặt.[218]

- Từ chủ chốt trong Hiến chế về PV thánh là "vai trò thừa tác" (Thánh Nhạc. làm nên thành phần). Kết quả đáng ghi nhận là không còn từ Thánh Nhạc. Từ nầy được thay thế bằng cụm từ "Nhạc trong PV".[219] Từ nay, mọi loại nhạc có đóng vai trò trong PV đều được gọi là thánh.[220] Tuy nhiên, trong Hiến chế về PV thánh, từ số 112 - 121, vẫn có 11 lần dùng chữ Thánh Nhạc, nhưng với nghĩa là "Nhạc trong PV" do ảnh hưởng của số 112.

Kiểu nói "Nhạc trong PV" là kiểu nói rất mới. Từ nay, Nhạc trở nên hành vi thực sự PV, không chỉ là thứ trang trí, vì Nhạc là thành phần của PV.[221]

4. "Không những Thánh Kinh, mà cả các giáo phụ và các Ðức Thánh Cha đã khen ngợi những bản thánh ca".[222]

a) Thánh kinh và TN:

- Hãy đối đáp bằng Tv lời ca, lời vãn được thần hứng, xướng ca, chúc tụng Chúa hết lòng anh em.[223]

- Hãy dùng Tv, lời ca, lời vãn của Thần khí mà ngợi khen Tc hết lòng anh em.[224]

b) Các giáo phụ và TN:

+ Thánh Ambroise thành Milan sáng tác vài bài Bình ca

+ Thánh Augustin (390) là một trong những giáo phụ đầu tiên bàn về việc ca hát trong PV

+ Tk 6, Pseudo-Pambo chống lại cách hát quá đời, có vẻ kịch trường và mong muốn có những bài hát thánh thiện.

+ Isidore de Séville, thời Trung cổ (tk 12) cho rằng Thánh ca phải đơn giản, đoan trang và duyên dáng.[225]

c) Các giáo hoàng và TN:

+ ÐGH Grégoire I[226] thu tập và hệ thống hóa Bình ca.

+ Các ÐGH đã ban hành nhiều thông điệp, Huấn thị và Tự sắc bàn về TN. Chúng ta cùng tìm hiểu:

- Hiến chế Docta Sanctorum Patrum[227]: những cung điệu lã lướt phát xuất từ những tâm hồn lãng mạn không được chấp nhận trong PV.

- Thông điệp Annus qui[228]: Những điệu nhạc trần tục, phóng túng và kịch trường không được dùng trong PV.

- Tự sắc Tra le sollicitudine[229]: Các GM phải thành lập trong giáo phận mình một ban gồm những người chuyên môn về TN để kiểm duyệt các nhạc phẩm sử dụng trong PV.

- Hiến chế Divini cultus.[230]

- Thông điệp Mediator Dei.[231]

- Thông điệp Musicae Sacrae disciplina.[232]

- Huấn thị (Instructio) Thánh nhạc và PV ngày nay.[233]

- Hồng y Lercano[234]: Phải loại khỏi PV những điều thế tục như nhạc Jazz.

- Hiến chế De sacra Liturgia.[235]

- Qui chế tổng quát Sách lễ Rôma.[236]

- Huấn thị thứ ba: Ðể thi hành đúng đắn Hiến chế về PV thánh.[237]

- Sắc lệnh Piae Sollicitudines[238]: Phải đào thải những gì bất xứng và xa lạ ra khỏi ban nhạc, đào thải những gì xúc phạm đến uy quyền TC, sinh gương xấu cho giáo dân, hoặc ngăn cản họ nâng lòng lên cùng Chúa.

- Thư gởi Ðại hội TN Ý của Hồng y Villot: "Cố gắng tránh và cấm tất cả những loại âm thanh, nhạc khí có tính cách thế tục, đặc biệt những bài hát kích động, gây cấn, ồn ào, làm náo động khung cảnh thanh lịch của nghi thức PV. Những loại nhạc đó không thể nào xứng hợp với mục đích cao cả của PV là thánh hóa con người".

Ðức Grégoire cả (tk 6), tuy không viết Huấn thị về TN, nhưng Ngài vẫn là người góp công rất nhiều cho kho tàng TN, nhất là Bình ca.

5. "Tiên phong là Ðức Piô X đã làm sáng tỏ rõ ràng hơn vai trò của Thánh Nhạc trong PV"[239]

- "ÐGH Piô X thành lập GH học viện TN tại Rôma".[240]

- Ngài viết Tự sắc Tra le Sollicitudine, 1903. Trong đó, Ngài còn xem TN như đầy tớ khiêm nhượng (còn Vatican II coi TN có vai trò thừa tác) và cho rằng Bình ca là mẫu mực xuất sắc về nhạc giáo đường.[241] Nhưng vào thời Ngài, bình ca chưa thật sự được coi là TN, mà chỉ là nhạc tôn giáo vì lúc đó, chỉ có chữ nhạc giáo đường, chưa có chữ TN.[242] Mãi đến Huấn thị 1958, Bình ca mới được coi là TN.[243]

Ngài còn cho rằng bài hát PV phải là "nghệ thuật thật sự".[244] Quan niệm thuần thẩm mỹ như thế trong Nhạc PV không gần với đại đa số nhưng như dành riêng cho lớp trí thức.

"Nét thẩm mỹ trong bài hát PV không chỉ do lời và nhạc nhưng còn do cách thức lời và nhạc liên kết với cử hành PV như thế nào".[245]

Trong Tự sắc, Ngài cũng cho phép dùng dàn nhạc khi cử hành Thánh lễ, nhưng chỉ trong một vài trường hợp và phải có phép đặc biệt.[246]

- Thời Ðức Piô X, trong mỗi giáo phận đều có Hội đồng TN (có lẽ do ảnh hưởng của Ngài)

6. "Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động PV bao nhiêu thì càng thánh hơn bấy nhiêu".[247]

Ðể tìm hiểu, chúng ta bàn:

a) Nhạc là thánh hay phổ quát:

Về chữ thánh: Lúc đầu các nghị phụ dùng chữ "phổ quát" nhưng sau đổi thành chữ "thánh" vì muốn tôn trọng nền âm nhạc của GH Ðông phương.[248]

b) Nhận định:

Quan niệm của Vatican II có tính cách mạng.[249] Giá trị Nhạc PV bây giờ không đo lường theo tiêu chuẩn thuần âm nhạc và thẩm mỹ, nhưng theo tiêu chuẩn PV.[250]

Hucke cho rằng tiêu chuẩn xác định không còn thuần thẩm mỹ, và như thế không một nét nhạc nào tự nó là thánh: "Tất cả mọi hình thức nghệ thuật chân chính đều được phép với điều kiện là chu toàn vai trò thừa tác".[251]

7. "TN vừa phát triển lời cầu nguyện một cách dịu dàng, vừa cổ võ sự đồng thanh nhất trí, lại vừa làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng".[252]

a) TN phát triển lời cầu nguyện cách dịu dàng

Khi nghe đọc và hát kể[253] ta đã thấy lối hát kể có nét riêng, làm tăng vẻ long trọng cho cử hành PV hơn là đọc và cũng là cách giúp ta cầu nguyện hiệu quả hơn. Nếu ta cùng nhau hát và cố gắng hát hay, hát sốt sắng thì ta đã đi đúng với câu ngạn ngữ "Hát hay là cầu ngụyện gấp đôi".

c) TN cổ võ sự đồng thanh nhất trí

- Khi hát chung, mỗi cá nhân phải bỏ giọng mình và hoà nhập với giọng người khác. Hát đối đáp cũng là cách thể hiện sự đồng tâm nhất trí. Duchesneau viết: "Hát chung ý nghĩa hơn ta tưởng. Người người họp nhau và hát chung một giai điệu. Ðàn ông, đàn bà, con nít, người trẻ, người già. kẻ nghèo, người giàu. nghề nghiệp khác nhau, lịch sử, hoàn cảnh gia đình khác nhau... Mỗi người có chất giọng riêng, âm sắc riêng. Tuy nhiều khác biệt nhưng chỉ có một giai điệu, một tiếng hát".[254]

- Hát chung là dấu chỉ các thành viên tham dự trở nên một trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Ðức Kitô.[255] "Sau Rước lễ, ca hát cộng đồng là hình thức giúp mọi người tham gia PV một cách sâu xa nhất".[256]

d) TN làm cho nghi lễ thêm long trọng

- Ðọc, ngâm đã long trọng, hát lại long trọng hơn.

- Chủ tế, cộng đoàn lẫn ca đoàn cùng hát hoà với nhạc khí thì Thánh lễ lại càng long trọng.[257]

8. "GH chuẩn nhận và cho dùng vào PV tất cả mọi hình thức nghệ thuật đích thực, miễn là có những đặc tính cần thiết".[258]

Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến một khía cạnh nghệ thuật liên hệ là Thánh nhạc. Muốn được dùng trong PV thì TN phải:

a) Chu toàn cách hiệu quả phận vụ của mình trong cử hành PV.

b) Phù hợp với sự trang nghiêm của nơi cử hành.

c) Giúp giáo dân cầu nguyện thực sự.[259]

Ta có thể dùng lời của Gerard Kock để kết luận về vấn đề nầy "Giữa bàn thờ tức PV và nhạc nghệ thuật (jubé), công đồng đã giải quyết rõ ràng là thiên về bàn thờ tức PV".[260]

Công đồng xem TN trước hết là yếu tố PV, sau mới xét đến khía cạnh nghệ thuật.[261]

9. "Mục đích của TN là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu".[262]

Hai mục đích nầy luôn gắn liền với nhau. Do đó, ta cùng nhau tìm hiểu - "Trong cử hành PV, ca viên đến không phải để hát thật hay bài họ ưa thích; Lm có mặt không phải để lo khuyến khích hát bài mới xuất bản cho hợp thời; cộng đoàn tụ họp không phải để đánh giá tài năng của người đệm đàn hay người đơn ca... Họ đến để làm vinh Chúa và nhờ đó mà thánh hóa các tín hữu bằng cách cất lời ca tụng Chúa".[263]

- Hát cho thoả lòng, hát cho bằng thích không phải là cách ca tụng Chúa[264] mà là hát cho mình: Phải hát thật hay nhưng để giúp ta tìm đến Ðấng Vô Hình.

- Một nguy hiểm khác: càng tìm cái đẹp (hát, đàn thật hay), ta lại càng dễ thiên về giải trí.[265] Như vậy thì chưa phải là cách làm vinh danh Chúa. Hát hay để hướng tâm hồn lên Chúa, để ca tụng Chúa.

- Thánh nhạc phái là nhạc thánh, chứ không phải là nhạc thời trang.[266] Với TN, ta dễ tìm đến Chúa.

- Nhạc phải thánh trong lời ca, thánh trong âm nhạc, thánh trong cách thể hiện.[267]

10. "Hoạt động PV mang một hình thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự".[268]

a) Bổn phận chủ toạ của chủ tế:

"Hơn nữa, Lm là hiện thân Chúa Kitô, chủ toạ cộng đoàn, đọc những lời kinh trực tiếp dâng lên TC nhân danh toàn thể dân thánh và mọi người tham dự".[269]

Bổn phận đó được tóm tắt như sau:

- Khai mạc và kết thúc cử hành PV.

- Công bố lời Chúa (nhất là bài giảng).

- Ðọc lời kinh nhân danh cộng đoàn.

b) Bổn phận hát của chủ tế:

- "Tuy nhiên, sẽ không có một tia hy vọng nào đạt tới kết quả đó (giáo dân tham dự linh động) nếu trước tiên những mục tử chăn dắt các linh hồn không thấm nhuần sâu rộng tinh thầìn và năng lực của PV cũng như không thành những bậc thầy trong lãnh vực ấy. Vì vậy, rất cần phải chú trọng đến việc huấn luyện cho hàng giáo sĩ".[270]

- "Lm chủ tế và các thừa tác viên có chức thánh, ngoài việc tuân giữ cặn kẽ luật chữ đỏ, phảihết sức cố gắng hát phần của mình: hát đúng, hát rõ và hát hay".[271]

- "Trong cử hành PV, đặc biệt trong các cử hành PV trọng thể, lúc phải hát bài khó hay lúc truyền thanh, truyền hình thì nên chọn người giỏi hát nhất".[272]

Hát là ngành chuyên biệt, là khiếu trời cho. Nhưng, với cố gắng, ta có thể khá hơn. Ðiều cần là ý thức và cố gắng.

11. "Giáo dân tích cực tham gia".[273]

Một trong những điểm tích cực của Vatican II là sự tham gia của cộng đoàn. Ta tìm hiểu:

a) Ý nghĩa:

Tiếng "tích cực tham gia" được lặp lại nhiều lần trong Hiến chế về PV thánh của Vatican II (14, 30, 33, 48, 113, 114, 118, 121.). Theo Lm Duchesneau thì tiếng "tích cực" còn có nghĩa là ý thức, hiệu quả, trọn vẹn, mang tính cộng đoàn, sốt sắng.

b) Những trích dẫn trong Hiến chế về PV thánh về sự tham dự của giáo dân:

- (Quan trọng nhất) "Việc tham dự ấy (ý thức, linh động.) do chính bản tính PV đòi hỏi; lại nữa, nhờ phép rửa tội, việc tham dự PV trở thành quyền lợi và bổn phận của dân Kitô giáo".[274]

- Ðể giúp giáo dân tham dự linh động, cần phải phát huy những lời tung hô.[275]

- Thực vậy, trong PV, TC nói với dân Ngài: Ðồng thời Chúa Kitô cũng rao giảng PÂ. Còn dân chúng đáp lại TC qua tiếng hát lời kinh.[276]

- Vì thế, GH hằng bận tâm lo cho các tín hữu tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy, không như những khách bàng quan, câm lặng nhưng là.[277]

- (Quan trọng xét về nhạc) "Hoạt động PV mang một hình thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng, với tiếng hát do thừa tác viên có chức thánh chủ sự và giáo dân tích cực tham dự".[278]

Những điều trên đây đòi hỏi lòng đạo đức, sự ý thức. của mỗi người mới mong đem lại nét khởi sắc cho cử hành PV.

12. "Còn về ngôn ngữ được sử dụng, hãy theo qui tắc khoản 36".[279]

a) Tinh thần Musicae Sacrae Disciplina (1955):

Trong thông điệp nầy, Ðức Piô XII hé mở cho việc dùng Thánh ca bình dân bằng tiếng bản xứ. Tiếng chính thức trong PV vẫn là La tinh.[280]

b) Tinh thần De Musica Sacra (1958):

- "Ngôn ngữ PV là La tinh. Trong vài cử hành PV, ngôn ngữ khác phải được chấp nhận rõ ràng"[281]

- "Trong các cử hành đạo đức (ngoài Thánh lễ), có thể dùng bất cứ ngôn ngữ nào hợp với dân".[282]

- "Trong lễ hát, phải dùng tiếng La tinh do Lm chủ sự và thừa tác viên, ca đoàn và giáo dân".[283]

c) Tinh thần Hiến chế về PV thánh (1967):

- "Tuy nhiên, có thể sinh lợi rất nhiều cho dân chúng nếu dùng tiếng bản quốc hoặc trong thánh lễ hoặc trong cử hành các bí tích hoặc trong những phần khác của PV".[284]

- "Tiếng bản quốc có thể được dùng cách thích đáng trong những thánh lễ có dân chúng tham dự."[285]

Ðến Vatican II nhất là hiến chế về PV thánh[286] mới cho dùng tiếng địa phương trong cử hành PV và trong các bài hát.

13. "Phải hết sức lo lắng duy trì và cổ võ kho tàng TN".[287]

Vấn đề sống còn đối với TN không nằm ở chỗ lưu trữ kho tàng TN bằng mọi giá nhưng ở chỗ là mỗi bài hát, mỗi đoạn nhạc tìm được phận vụ của mình trong PV.[288]

Kho tàng TN là di sản chung của GH và của con người. Do đó, không duy trì là một thiếu sót. Nhưng nếu chỉ duy trì mà không phát huy lại là một thiếu sót lớn hơn.

14. "Phải nỗ lực đào tạo các ca đoàn, nhất là ở nhà thờ chính toà".[289]

a) (Xem ca đoàn trong phần trước)

b) "Ước gì các nhà thờ chính toà và ít nhất các nhà thờ quan trọng có ca đoàn cố định để chu toàn phận vụ thừa tác thật sự".[290]

c) Hiến chế về PV thánh (1967):

"Ngoài Uỷ Ban PV thánh, trong mỗi giáo phận, khi có thể, cũng phải thiết lập các Uỷ ban TN và nghệ thuật thánh".[291]

d) Ví dụ: Ca đoàn Notre Dame de Paris.[292]

- Hoà nhạc: Trình diễn Ðại phong cầm mỗi tuần; độc tấu (récital) Ðại phong cầm mỗi tháng; hoà nhạc cầu nguyện hàng tháng;

- Thu băng: 2, 3 lần trong năm, trong hay ngoài nhà thờ cộng với vài buổi hoà nhạc ngoài nhà thờ

- Ca đoàn lớn học đàn phím, hoà âm, thanh nhạc, bình ca, ngâm vịnh. .

- Ca đoàn nhỏ học đàn phím, xướng âm, nhạc khí gõ, luyện thân thể, thanh nhạc, bình ca, nhạc khí như violon. .

đ) Ca đoàn Les Petits Chanteurs giáo phận Lyon (Pháp):

Thành lập từ năm 800, chương trình như sau:[293]

+ 150 em, chia thành 4 nhóm:

- Nhóm 4: 6-7 tuổi

- Nhóm 3: 8-9

- Nhóm 2: 9-10

- Nhóm 1: 10 tuổi trở lên

+ Chương trình:

- Nhạc lý

- Thanh nhạc

- Phân tích Hoà âm

- Lịch sử âm nhạc

- Hát nhạc Choral

15. Các tín hữu tham gia cách linh động

"Về phần các GM và mục tử khác có nhiệm vụ coi sóc các linh hồn, hãy nhiệt tâm lo lắng để trong bất cứ nghi lễ nào có hát, tất cả cộng đoàn tín hữu đều có thể tham dự một cách linh động vào những phần dành riêng cho họ, theo qui tắc khoản 28 và 30".[294]

a) GM, Lm nhiệt tâm:

- Lc 6, 15: Simon gọi là nhiệt thành

- Lc 14, 27: Ai không vác thập giá mà theo Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta.

Ðó là lời Chúa dạy và ta đã từng cố gắng thực hành.

b) Cộng đoàn linh động:

"Ðể phát huy việc tham gia linh động, cần phải cổ xúy những lời tung hô của dân chúng, những lời đối đáp, những bài ca vịnh, tiền khúc, thánh ca..."[295]

Nếu GM, Lm không nhiệt tâm thì ai dám làm và làm được gì. Nếu đầu tàu không nổ máy thì các toa tàu vẫn đứng tại chỗ.

16. "Phải chú trọng đến việc huấn luyện và thực tập âm nhạc trong các Chủng viện, các tập viện..."[296]

a) Hiến chế Divini Cultus (1928)

"Hiến chế Divini cultus, II của Piô XI định rõ: một bài học hay bài tập hát hầu như mỗi ngày, lồng vào đó tinh thần PV".[297]

b) De Musica Sacra (1958):

- "Những người trẻ tiến tới chức Lm phải được huấn luyện đầy đủ và vững chắc về PV cũng như về TN".[298]

- "Các tu sĩ nam nữ và những thành viên tu hội đời, ngay thời tập viện và đi giúp phải được giáo dục tiệm tiến nhưng vững chắc về PV và TN".[299]

Và theo Hucke thì việc huấn luyện nhạc cho hàng giáo sĩ trở nên việc quan trọng hàng đầu.[300]

17. Dạy trong học viện và học đường công giáo.[301]

- "Môi trường giáo dục Kitô giáo tự nhiên và đầu tiên chính là gia đình công giáo. Nên khuyến khích con cái tham dự các việc đạo đức, PV, nhất là Thánh lễ, dạy chúng biết yêu mến Tc bình dân tôn giáo tại gia đình và trong nhà thờ.[302]

- Giáo dục PV và TN trong trường tiểu học.[303]

- trong Trung học.[304]

- "Nền giáo dục PV và Âm nhạc cần được đẩy mạnh và đào sâu trong đại học".[305]

Trong hoàn cảnh chúng ta thì những điều trên còn quá xa vời.

18. "Cần phải quan tâm đến việc huấn luyện những giáo sư có nhiệm vụ dạy TN".[306]

"Bản quyền địa phương nên gởi đến các học viện, nhất là Học viện Giáo Hoàng TN tại Rôma, những LM thích và có khiếu về nghệ thuật nầy".[307]

19. "Nên thành lập những viện Cao đẳng TN".[308]

"Trong mỗi giáo phận nên có một Học viện dạy hát, dạy đại phong cầm, ca trưởng, ca sĩ."[309]

20. "Các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi, cũng phải được huấn luyện cho đủ khả năng PV".[310]

a) Nhạc sĩ".

- "Các Ns sáng tác TN phải hiểu biết khá đầy đủ về PV xét về lịch sử, tín lý, thực hành."[311]

- "Các Ns TN không những chỉ thấu hiểu luật lệ nghệ thuật, mà còn phải biết thích ứng với luật lệ TN để liên kết mặt ngoài của nghệ thuật với lòng đạo sâu sắc".[312]

- "Tất cả những người có phần hành trong PV như nhạc sĩ sáng tác, người đệm đàn, ca trưởng, ca viên phải có đời sống công giáo trỗi vượt hơn giáo dân...[313]

- Họ cố gắng phục vụ nhiệt thành do lòng đạo đức vì Chúa và không đòi hỏi luơng bỗng. Dầu vậy, các bề trên, vì công bình Kitô giáo nên giữ luật dân sự trong vấn đề lương bỗng".[314]

b) Các thiếu nhi:

"Các nhà thờ cố gắng có ca đoàn nhỏ, đào tạo chúng về PV, nhất là về nghệ thuật hát hay và hát sốt sắng".[315]

[316]

21. Bình ca:

"Giáo Hội nhìn nhận Bình ca là lối hát riêng của PV Rôma. Vì thế, trong các hoạt động PV, Bình ca phải chiếm một địa vị chính yếu giữa những loại ca khác".[317]

A. Nguồn gốc của Bình ca:

Bình ca gắn liền với Thánh lễ nghĩa là ngày khai sinh Thánh lễ cũng là ngày khai sinh Bình ca "Phác hoạ lịch sử Thánh ca chính thức của GH Công giáo đồng nghĩa với kể lại lịch sử âm nhạc và PV"[318] hay "Nguồn gốc Bình ca gắn liền với những cử hành PV của người Công giáo vào những thế kỷ đầu tiên của GH".[319]

Bình ca được ÐGH Grégoire cả (đệ nhất) hệ thống hóa vào cuối tk 6, do đó mới có tên là Bình ca Grêgôriô. Bình ca là kết quả của lối hát 1 bè và là nền tảng cho nhạc nhiều bè sau nầy gọi là nhạc đa âm. Ðây là lối hát bắt nguồn từ cách hát Tv của người Do Thái. ÐGH Grégôriô đã tuyển thành 2 tập: Tập một gọi là Antiphonaire (Thánh ca) và tập hai là Cantatorium (sách dành cho thầy phó tế hát Tv một mình). Có nhiều cách hát Bình ca, nhưng ta tạm xếp thành hai loại:

a) Bình ca ngâm:[320]

Ðây là lối hát dựa trên một nốt trụ (như để làm nền) theo mô hình: Nét nhạc khởi đầu + nốt trụ + đoạn giữa (kết tạm giữa câu để nghỉ lấy hơi) + nốt trụ (cho phần sau) + nét nhạc kết thúc.

Bình ca ngâm được dùng cho các lời nguyện, kinh tiền tụng và nhất là ngâm các Tv.

b) Bình ca hát:

Giai điệu hầu như luôn luôn đi từ thấp lên cao rồi xuống thấp rồi kết ở chủ âm. Trong chuyển hành, nét nhạc gồm nốt lấy đà và tiếp theo là nốt dừng.[321]

B. Tầm quan trọng của Bình ca:

- "Bình ca không phải là hình thể âm nhạc hay hơn hình thể khác hoặc cũng không chỉ là bài ca bổ túc cho PV nhưng Bình ca, xét về âm nhạc, là hình thể diễn tả hoàn hảo nhất tinh thần PV Rôma".[322] "Bản văn và điệu nhạc hoà hợp với nhau để đạt tới mục đích duy nhất là cầu nguyện".[323]

- Bình ca là yếu tố rất giá trị xét về văn hóa và giáo dục[324] vì đó là bài ca để giáo dục tâm hồn[325]. "Bình ca hướng cảm xúc của ta về với Ðấng Tuyệt Ðối, còn Thánh ca thì thường dừng lại ở cảm xúc và tệ hơn nữa, ở sự ủy mị".[326]

- Bình ca tuyệt hảo ở chổ là nó phát sinh từ PV để phục vụ cho PV (trg17) "Bình ca phục vụ cho PV để truyền đạt Chân lý đang cử hành, còn Thánh ca nguy hiểm ở chổ dùng PV để diễn tả cảm xúc" (Bình ca, 20)

Bình ca giúp chúng ta hiểu được thế nào là tình yêu, tôn thờ, ca ngợi, chiêm niệm và thinh lặng (Bình ca, trg 17)

C. Huấn quyền và Bình ca:

a) Tra le:[327]

"Một sáng tác cho giáo đường càng thánh, càng hợp PV bao nhiêu thì càng gần với cách chuyển hành, cảm tác và chất vị của giai điệu Bình ca".[328]

a) Musicae Sacrae Disciplina:[329]

"Bình ca thực sự nở rộ từ tk 8 hay 9 trong hầu hết các vùng Âu Châu công giáo nhờ một nhạc khí gọi là đại phong cầm".[330]

c) De Musica:

- "Bình ca là Tc, bài ca riêng và quan trọng của GH Rôma... phải được coi trong hơn các loại TN khác".[331]

- "Ngôn ngữ trong Bình ca cũng như trong PV duy nhất là La tinh".[332]

- "Bình ca, tự bản chất, không cần đệm đại phong cầm hay nhạc khí khác[333] (khác với b, nhưng đó là cách hát của mỗi thời)

d) Hiến chế về PV thánh (1967):

TS số 2 của Piô X và MS số 50, 51 của Piô XII vẫn đặt nặng tính phổ quát của nhạc (đồng loạt trên khắp thế giới), nhưng Vatican II không đặt vấn đề phổ quát của nhạc nữa: "Bình ca được coi như nhạc riêng của PV Rôma"[334]. Ðồng thời Vatican II chấp nhận những truyền thống Âm nhạc khác, nhất là ở các xứ truyền giáo.[335]

Không ai phủ nhận giá trị của Bình ca, nhưng phải công nhận là từ khi được phép hát bằng tiếng bản quốc thì vấn đề hát Bình ca không được phổ biến như xưa. Bản tường trình 1971: Ở Ðức, 23% các xứ, trước hát Bình ca, nay không hát. 30% ca đoàn thỉnh thoảng hát Bình ca.[336] Tuy thế, trong phần thường lễ, thỉnh thoảng ta cũng nên hát Bình ca để tỏ dấu hiệp nhất, đặc biệt trong những Thánh lễ có người ngoại quốc tham dự.

22. Không là loại trừ các loại TN khác.

"Không hẵn là loại trừ các loại TN khác, nhất là loại đa âm, trong những cử hành Phụng tự, miễn là đáp ứng được tinh thần của hoạt động PV theo khoản 30".[337]

"Ðể phát huy việc tham gia linh động, cần phải phát huy những lời tung hô của dân chúng."[338]

Thánh ca đa âm chia thành 2 loại: Tc đa âm và Tc đa âm hiện đại.

A. Nhạc đa âm:

a) Ba điều kiện để được gọi là Tc đa âm:

+ Bài hát có chia ô nhịp

+ Viết cho nhiều bè

+ Hát không đệm đàn

"Thánh ca đa âm là loại nhạc có chia ô nhịp, có nhiều bè, không đệm đàn (3 đặc tính) phát triển mạnh vào thời Trung cổ trong GH La tinh. Nhạc sĩ tiêu biểu là Pierluigi Palestrina (1525-1594).[339]

b) Huấn quyền với Nhạc đa âm:

- "Tc đa âm được dùng trong PV vì nó giống với mẫu mực tuyệt hảo của mọi thứ TN là Bình ca".[340]

- "Nhạc đa âm phát triển thời Trung cổ (tk 12), mạnh vào hậu bán tk 16 với Pierluigi Palestrina[341] và còn đến ngày nay với những bậc thầy xuất sắc".[342]

B. Nhạc đa âm hiện đại:

a) Hai điều kiện để loại nầy thành TN:

- Ns có ý sáng tác cho PV:

"TN hiện đại có nhiều bè, có đệm nhạc. Nếu được sáng tác cho PV thì mới được dùng trong PV".[343]

"Chỉ được dùng trong PV với điều kiện là tác giả có ý sáng tác đúng qui luật TN".[344]

- và sáng tác do lòng đạo đức và tâm tình tôn giáo.[345]

Huấn thị nầy phân biệt rõ là như thế. Nhưng Tự sắc 1903 dè dặt về loại nầy vì nó có vẻ đời. Divini cultus cũng vậy.

b) Cách hát:

"Thánh ca đa âm được dùng trong PV với điều kiện là có ca đoàn đủ khả năng theo luật nghệ thuật".[346]

Vatican II coi tất cả truyền thống Âm nhạc là kho tàng chứ không phải chỉ Bình ca là kho tàng.[347]

23. "Cũng nên lo ấn hành một loại sách hát gồm những âm điệu đơn sơ hơn để dùng trong các nhà thờ nhỏ".[348]

Các loại nhạc đều được, miễn là hợp với tinh thần PV.[349]

Theo Soeur Etienne,[350] thì từ tk 1 đến hết thời Trung cổ (tk 12) có khoảng 30.000 bài hát nhưng nay chỉ còn 75 bài in trong sách Bréviaire Romain (trước Vatican II)

Tk 4, thánh Ephrem và thánh Athanase cũng đã sáng tác Thánh thi[351] và gom các bài hát thành tuyển tập để dùng trong các cộng đoàn của Ngài. Bài hát âm điệu đơn sơ mới hợp khả năng cộng đoàn. Cần gom lại để hát và khỏi thất lạc.

24. Phải cổ võ thánh ca bình dân cách khéo léo.

"Thánh ca bình dân phải được khéo léo cổ võ để tín hữu có thể ca vang lên tiếng hát trong những việc đạo đức thánh thiện cũng như chính trong hoạt động PV, theo những qui tắc và chỉ thị của chữ đỏ".[352]

A. Nhạc tôn giáo:

Trước khi đề cập đến Thánh ca bình dân, có lẽ ta nên tìm hiểu định nghĩa về nhạc tôn giáo: "Nhạc tôn giáo không được sáng tác cho PV, mang tính tự do nên không được dùng trong PV".[353]

Tông huấn 1955: Loại nhạc không dùng riêng cho PV nhưng vẫn giúp nhiều cho tôn giáo nhờ nét nhạc và chủ đích của nó phải gọi đích danh là nhạc tôn giáo.[354]

B. Nhạc bình dân tôn giáo:

1. Ðịnh nghĩa:

"Nhạc bình dân tôn giáo lấy hứng từ tâm tình tôn giáo đôi khi được dùng trong PV".[355]

Các nhà phê bình cho rằng: ta phải lưu tâm đặc biệt đến Nhạc bình dân tôn giáo và điều đó, xét theo bên ngoài, muốn nói đến lời các bài hát không thuộc PV.[356]

2. Cách dùng:

a) De Musica (1958):

"Nhạc bình dân tôn giáo được tự do dùng trong các việc đạo đức nhưng trong cử hành PV, phải giữ số 13-15".[357] Các số 13-15 nói về ngôn ngữ phải dùng: Trong cử hành PV, phải dùng tiếng Latinh; trong các việc đạo đức, có thể dùng tiếng bản quốc.

b) Vatican II:

Hiến chế về PV thánh: Tc bình dân phải được khéo léo cổ võ.[358]

Ngay trước Vatican II, tuy GH dùng tiếng La tinh trong cử hành PV, nhưng vẫn có những bài hát bằng tiếng địa phương, điển hình là tại Pháp đã có sách như:

- Sách Cantiques de St Sulpice (xứ nổi tiếng ở Paris) vào tiền bán tk 19, gồm 3 phần:

1. Bài ca nói về chân lý đức tin

2. Bài ca về đạo đức và luân lý.

3. Bài ca về phụng tự và bí tích

- Sách Manuel de chant complet của Lm J và M. Delporte, năm 1913 gồm 2 phần:

1. Bài ca bằng La tinh tuy không hoàn toàn như danh mục Grégorien.

2. Bài ca bằng tiếng Pháp.[359]

Dầu sao, thánh ca bình dân cũng là điều nên khuyến khích vào bất cứ thời điểm nào vì nó mang lại nhiều phấn khởi và lợi ích cho giáo dân.

25. Âm nhạc tại các xứ truyền giáo.

"Tại những nơi nầy (xứ truyền giáo) phải quí trọng âm nhạc ấy đúng mức. thích ứng năng khiếu của họ vào việc phụng tự theo tinh thần khoản 39, 40".[360]

- "Thẩm quyền GH địa phương phải thận trọng và khôn ngoan cứu xét trong công việc nầy, những yếu tố nào thuộc các truyền thống và tâm tính của từng dân tộc có thể được chấp nhận thích đáng vào việc thờ phụng TC. Những thích nghi được thẩm định là lợi ích hay cần thiết, phải đệ trình lên Tông Toà để được kết nạp và chuẩn y".[361]

- "Vì các luật lệ PV thường mang theo nhiều khó khăn đặc biệt cho việc thích nghi, nhất là trong các xứ truyền giáo, nên để thiết lập các luật lệ nầy, cần phải có mặt các nhà chuyên môn trong lãnh vực đó".[362]

Công đồng còn nói thêm: "Hơn nữa, GH còn tôn trọng cũng như phát huy những vẻ đẹp tinh thần, những đặc tính của những dân nước khác nhau".[363]

Ðây cũng là cái nhìn mới: GH coi trọng cái hay, cái đẹp của từng dân tộc, của mọi miền đất nước.

26. Cần phát triển âm nhạc của các dân tộc.

"Trong khi huấn luyện âm nhạc cho các vị thừa sai, phải hết sức lo lắng để họ có thể phát triển truyền thống âm nhạc của các dân tộc nầy, được chừng nào hay chừng đó, trong các trường học cũng như trong các hoạt động PV".[364]

De Musica 112:

a) Các Lm được gởi đi truyền giáo phaỉ học PV và TN.

b) Ðối với những dân tộc có nền âm nhạc riêng, các nhà thừa sai phải rất cẩn thận khi hướng nhạc bản xứ vào việc phụng tự.

c) Ðối với dân bán khai, các nhà thừa sai phải hướng sao cho phù hợp với khả năng và tinh thần của họ.

27. Ðại phong cầm.

"Trong GH La tinh, Ðại phong cầm phải hết sức quí trọng vì là một nhạc khí cổ truyền mà âm thanh có thể thêm vẽ huy hoàng, kỳ diệu cho các nghi lễ, lại có hiệu lực nâng cao tâm hồn lên cùng Chúa và những sự trên trời".[365]

A. Nguồn gốc:

Ðại phong cầm, lúc đầu, là một nhạc khí đời, bị GH kết án. Dần dần, nó mất tính đời và được dùng trong nhà thờ vì người ta không còn dùng loại phong cầm xách tay nữa. Nó trở nên nhạc khí đặt cố định. Muốn dùng thì phải đặt trong nhà thờ và Ðại phong cầm trở thành nhạc khí của nhà thờ.[366]

Ðối với GH, đại phong cầm được gọi là nhạc khí vua: "Nhạc khí chính yếu và long trọng được dùng trong GH Latinh là đại phong cầm cổ điển tức đàn ống".[367]

"Organ điện có thể chấp nhận tạm thời trong PV khi chưa có điều kiện để mua đàn ống (tức đại phong cầm)".[368]

B. Vai trò của đại phong cầm:

a) Vai trò báo hiệu trong PV:

Ðại phong cầm tham dự vào cử hành PV, ví dụ như đóng vai trò báo hiệu: Tiếng đàn nổi lên lúc khai mạc cử hành PV khiến mọi người đứng dậy để bắt đầu Thánh lễ.

b) Vai trò truyền giáo:

Nhiều người đến nhà thờ nhờ âm thanh thánh thiện của nó. Và thiếu nó thì có người không muốn tới nhà thờ.[369] Ðương nhiên, vai trò của Chúa TT là quan trọng, nhưng ta không thể phủ nhận tiếng đàn cũng có thể giúp cho con người dần dần khám phá ra TC.

c) Vai trò văn hóa:

"Ðại phong cầm là nhạc khí cổ xưa nhất, huyền diệu nhất, đậm nét văn hóa nhất. Khi trong làng không còn nghe tiếng đại phong cầm và tiếng hát của ca đoàn thì coi như nền văn hóa trong làng đó không còn nữa".[370]

C. Người đệm đàn:

a) Nhiệm vụ "Người đệm đàn cần phải ý thức về vai trò năng động của mình để hành động vì vinh quang Chúa và vì lợi ích cho giáo dân".[371]

b) Ðiều kiện thu nhận người đệm đàn (cho các nhà thờ ở Paris, Pháp):

* Mọi ứng viên phải được hai người thuộc lãnh vực Ðại phong cầm và TN giới thiệu.[372]

* Hội đồng Giám khảo gồm 7 thành viên, do Toà Tổng GM Paris bổ nhiệm. Ðó là:

- 1 đại diện Toà Tổng GM chủ toạ

- 1 Lm chính xứ đang tại chức, thuộc Giáo phận

- 1 nhạc sĩ sáng tác cho đại phong cầm

- 2 người đệm đại phong cầm thực thụ, đang tại chức ở Paris

- 1 nhạc sĩ ngoại ngạch, thuộc lãnh vực Ðại phong cầm

- 1 chuyên viên Phụng vụ.[373]

c) Thi tuyển:

* Bài thi đàn trên nhạc khí do Ban Giám khảo chỉ định bao gồm:

- 2 bài trích từ môn Ðại phong cầm tk 16, 17, 18, trong đó có 1 bài của Pháp

- 2 bài có nét nhạc tương phản của Bach trong đó có 1 bài do giám khảo chỉ định

- 1 bài bắt buộc trích từ môn Ðại phong cầm thời hiện đại

- 1 bài ứng tác kiểu cổ điển dựa trên nhạc đề choral

- 1 bài ứng tác dựa trên nhạc đề tự do, do Ban Giám khảo đề nghị.[374]

* Bài thực hành[375] gồm:

- Ðệm bài hát PV tiếng Latinh và tiếng Pháp

- Trả lời bằng miệng các câu hỏi về cử hành PV, bài ca PV, Thánh nhạc (MD 189, trg 109-111)

Các người đệm đàn nên xem đó là bài học quan trọng trong việc đệm đàn phục vụ của mình. Xem người để biết mình và để cố gắng không ngừng.

28. Các nhạc cụ khác.

"Còn các nhạc cụ khác cũng được phép dùng vào việc phụng tự tùy theo phán đoán và phê chuẩn của thẩm quyền địa phương theo qui tắc khoản 22, 2 và 37 rồi 40 miễn là đã thích hợp hoặc có thể thích hợp để dùng vào việc thánh, xứng đáng với vẻ tôn nghiêm của thánh đường và thực sự giúp cảm hóa các tín hữu".[376]

A. Ðiều kiện để được nhận là nhạc khí dùng trong nhà thờ:

"Trong cử hành PV, các Nhạc khí khác được chấp nhận với điều kiện:

a) phải hợp với cử hành thánh

b) Tiếng đàn phải gợi lên nét tinh tuyền tôn giáo, tránh những gì có vẻ trần tục, phương hại lòng đạo đức của giáo dân.

c) Người đệm đàn, các nghệ sĩ phải hiểu rõ cách xử dụng và luật TN.[377]

"Có những nhạc khí dễ thích ứng với Tn như đàn giây hay đàn kéo. Trái lại, có những nhạc khí mà theo nhận định chung chỉ phù hợp với nhạc đời nên không thích hơpvới cử hành thánh".[378]

B. Người đệm đàn:

"Trong PV, chỉ chấp nhận nhạc khí do Ns đệm chứ không do máy móc phát ra".[379]

"Các nghệ sĩ lưu ý đến việc giữ cho nhạc khí mình sử dụng luôn mang lại bầu khí đạo đức".[380]

29. Các nhạc sĩ Kitô giáo phải trau dồi TN.

Các nhạc sĩ thấm nhuần tinh thần Kitô giáo hãy ý thức rằng mình được kêu gọi phải trau dồi TN và phát triển kho tàng TN đó.[381]

a) Kinh nghiệm của Ns:

Ns phải có kinh nghiệm cá nhân, thâm sâu và trực tiếp về PV, về tinh thần PV, cách thực hiện và luật của PV.[382]

b) Ðạo đức cá nhân:

Martimort đã viết:

"Ns cần có phẩm chất tôn giáo: Cần đức tin, cần đời sống công giáo, cần sự dấn thân trong hoạt động của GH, cần lòng đạo đức".[383]

Ns tôn giáo khác kiến trúc sư (không đức tin vẫn có thể vẽ các nhà thờ) nên đức tin, lòng đạo là điều cần thiết đối với Nhạc sĩ.

30. Sáng tác TN.

"Hãy sáng tác những bản có cung điệu Tn thật sự để không những các ca đoàn lớn có thể hát được mà còn hợp với cả ca đoàn nhỏ, giúp cho toàn thể cộng đoàn tín hữu cũng có thể tham dự một cách linh động. Còn Lời Tc phải hợp phải thích hợp với giáo thuyết công giáo và tốt hơn cả là rút ra từ KT và các nguồn PV".[384]

- "Thánh ca bình dân phải hoàn toàn phù hợp với giáo lý công giáo, cần khai triển đúng, dùng ngôn ngữ rõ ràng, giai điệu đơn giản, ngắn, dễ, tránh sáo ngữ".[385]

- "Trong các cử hành PV, TK giữ vai trò tối quan trọng. Thực vậy, người ta trích từ TK những bài để đọc, những bài để dẫn giải trong bài giảng, cũng như những ca vịnh để hát. Chính nguồn cảm hứng và sức phấn khởi của TK cũng làm xuất phát những lời kinh, lời nguyện và những bài Phụng ca".[386]

Các nhà phê bình yêu cầu sự hợp tác giữa các nhà PV và Ns... khi viết hay chuẩn bị các bản văn bài hát[387] để nhạc đượm vẻ thánh thiện và lời đúng với Tin Mừng.

 

Ghi Chú:


[1] Báo La Maison-Dieu, số 108, năm 1971, trang 32 đến 55

[2] 1571-1621, là con Mục sư Tin Lành Ðức

[3] Huấn thị Thánh Nhạc và Nhạc trong Giáo Hội.

[4] Nt, trang 37.

[5] Ban hành ngày 22.11.1903.

[6] 11 lần trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, từ số 11 đến 121

[7] Giáo Sư ở Marburg, Ðức.

[8] Emile Martin, Muse en péril, Fayard, trang 25.

[9] Vocabulaire de Philosophie, trang 175.

[10] Le Prêtre, Homme du Sacré, trang 56

[11] Le Chant Grégorien redécouvert, trang 56.

[12] Dictionnaire de Philosophie Catholique (Từ điển Thần Học Công giáo)

[13] Hiến chế về Phụng Vụ Thánh, số 112 d.

[14] Le Chant Grégorien redécouvert, trang 12.

[15] Emile Martin, Une Muse en péril, trang 16.

[16] Hai tổ chức quốc tế về Thánh Nhạc.

[17] Tự sắc Tra Le Sollecitudini.

[18] Ban hành ngày 20.12.1928.

[19] Ðấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, ban hành 20.11.1947.

[20] PV số 112 a.

[21] PV số 112 c.

[22] Nhạc sĩ Thánh Nhạc nổi tiếng của Pháp.

[23] Concilium số 222, bài La Musique Sacrée: Liturgie ou Art, trang 18.

[24] Thành viên Hội nghiên cứu Âm nhạc Ðại học Frankfurt am Main, Ðức và là cộng tác viên báo Concilium.

[25] Concilium số 222, bài La Musique Sacrée: Liturgie ou Art, trang 19.

[26] Trích dẫn từ các tiêu chuẩn của nhóm UL, Lm Claude Duchesneau, Musique et Liturgie, Cerf, trang 23 đến 34.

[27] Nt, 1.3

[28] Nt, 2.4

[29] Nt, 8.1

[30] Trích dẫn từ 45 xác tín của nhóm UL. Sách đã dẫn, trang 35 đến 38.

[31] Nt, số 1.

[32] Nt, số 9.

[33] Nt, số 20.

[34] Báo La Maison-Dieu, số 212, Cerf, trang 152.

[35] Nt. trang 155.

[36] Nt. trang 155.

[37] PV, số 10.

[38] Nt. số 112 c.

[39] Nt. số 112 a.

[40] Báo La Maison - Dieu, số 212, cuối trang 19.

[41] PV, 14.

[42] Nt. 29.

[43] Nt. 14 b.

[44] Số 19 b.

[45] CVTÐ 2, 46.

[46] Cl. 3, 16 b.

[47] Huấn thị DE MUSICA SACRA et SACRA LITURGIA, số 3.

[48] QCTQ 19 c.

[49] Bàn về Thánh Nhạc trong PV thánh, do ÐGH Piô XII ban hành ngày 3.9.1958.

[50] A. G. Martimort, Liturgie et Musique, Cerf, trang 76 và 77.

[51] Nt, trang 77.

[52] Theo Duchesneau trong Musique et Liturgie, trang 151.

[53] Herbert Piloppi, trong báo Signes Musignes, số 43, trang 4.

[54] Les formes de la Musique, trang 88

[55] Tk 16.

[56] 1645- 1695.

[57] André Hodeir, Les formes de la Musique, trang 31.

[58] QCTQ 58.

[59] Nt. 28.

[60] Cl 1, 18.

[61] Cl. Duchesneau, Petit Traité d' animation Liturgique, trang 40.

[62] Lời mở đầu của QCTQ 4.

[63] QCTQ 60.

[64] CNPL = Centres nationaux de Pastorale Liturgique, La célébration de la Messe, trang 7.

[65] PV 113.

[66] 1964.

[67] Michel Veuthey, La chorale au coeur de l' assemblée, trang 47.

[68] Duchesneau, Musique et Liturgie, trang 146.

[69] Sinh ở Tây Ban Nha, tiến sĩ Thần học tại Ðức.

[70] Báo Concilium số 12, bài L' assemblée et ses implications pastorales, trang 35.

[71] PV 14.

[72] Nt. 26.

[73] Nt. 19.

[74] Nt. 48.

[75] Hc về Phụng Vụ thánh.

[76] Nt. 30.

[77] Nt. 114.

[78] Cl. Duchesneau, Musique et Liturgie, Cerf, trang 150.

[79] PV 7.

[80] Cl. Duchesneau, Petit Traité d' animation Liturgique, trang 48.

[81] QCTQ Số 63.

[82] Quand vous chantez à l' église, trang 107

[83] Nt. Trang 109.

[84] PV 29.

[85] Nt. 115

[86] Huấn thị về Thánh nhạc số 24.

[87] Huấn thị của Thánh bộ Nghi lễ, ngày 26.06.1964, số 19.

[88] Nt. các số 106-108.

[89] Trích tài liệu Thánh nhạc năm 1994, trang 96.

[90] QCTQ 274.

[91] Trong báo Signes Musiques số 48, trang 18.

[92] QCTQ 63 b.

[93] Cl. Duchesneau, Petit Traité d' animation Liturgique, trang 34.

[94] Pierre Loret, La Messe du Christ à JP II, trang 12.

[95] Le Sacrifice, Cerf, 1953, trang 168.

[96] La Messe dans l' histoire, trang 114.

[97] Tv 42, 4.

[98] Explication de la Messe, Cerf, 1944, trang 150.

[99] La Messe dans l'histoire, trang 96.

[100] Sđd, trang 168.

[101] La Messe d'ạujourd'hui, trang 48.

[102] QCTQ 26

[103] Sđd, trang 48.

[104] Explication de La Messe, trang 150.

[105] QCTQ 26.

[106] QCTQ 26.

[107] QCTQ 26.

[108] Theo Pierre le Brun, Sđd, trang 153.

[109] J. Juglar, Sđd, trang 168.

[110] Thầy phó tế nêu lời cầu nguyện cho tân tòng và tất cả thưa: Xin Chúa thương xót chúng con (Pierre le Brun, Sđd, trang 153).

[111] A. M. Roguet, Sđd, trang 52.

[112] A. M. Roguet, Sđd, trang 52

[113] Lc 17, 13: Mười người phong cùi.

[114] La Messe dans le Monde, trang 96.

[115] Le Brun, Trang 152

[116] QCTQ 30.

[117] Sách lễ Rôma, trang 567.

[118] A. M. Roguet, La Messe aujourd ' hui, Desclée, 1969, trang 54.

[119] Pierre le Brun, trang 157.

[120] Constantinople, Antioche là thủ đô của Syrie, Jérusalem, Alexandrie là thủ đô của Hy Lạp: Theo Pierre Loret, Sđd trang 71.

[121] Sđd, trang 168.

[122] Ðức ông Khả, bài giải đáp thắc mắc về "việc sáng tác điệu nhạc cho các phần chung trong buổi cử hành Thánh lễ" phát trên Radio Vaticana, ngày 22. 11. 1998 Nt, trang 3.

[123] J. Juglar, Sđd, trang 168.

[124] Pierre le Brun, Sđd, trang 159.

[125] Người cùng thời với thánh Hilaire.

[126] Sđd trang 156 -157.

[127] Sđd, trang 169.

[128] Ðức Ông Khả, bài đã dẫn, trang 3.

[129] La Messe dans l'histoire của Albert Rouet, trang 114.

[130] J. Juglar, trang 169.

[131] Việc sáng tác điệu nhạc., trang 2.

[132] QCTQ 31.

[133] A. M. Roguet, Sđd, trang 94.

[134] Một chuyên viên PV.

[135] Duchesneau, Musique et Liturgie, trang 151.

[136] CNPL, La célébration de la Messe, trang 45.

[137] QCTQ 36 a.

[138] J. Juglar, trang 176.

[139] Pierre le Brun, trang 188.

[140] Do Lm Wips sáng tác năm 1050

[141] Pierre le Brun, trang 188.

[142] J. Juglar, trang 177.

[143] Le Brun, trang 190.

[144] Kh 19, 1-8

[145] Pierre Le Brun, trang 189.

[146] A. M. Roguet, trang 94.

[147] J. Juglar, trang 181.

[148] Le Brun, trang 188.

[149] QCTQ 37 a.

[150] QCTQ 37 a.

[151] Philippe Robert, trong báo Signes Musiques.

[152] Pierre le Brun, Sđd, trang 191.

[153] Trang 181.

[154] Règle de St Benoit.

[155] Philippe Robert, Signes Musiques.

[156] J. Juglar, trang 181-182.

[157] A. M. Roguet, trang 108.

[158] La messe du Christ à JP, trang 106.

[159] Nt. trang 106.

[160] A. M. Roguet, trang 109 đến 110.

[161] QCTQ 43.

[162] Le Brun, Explication de la Messe, trang 220.

[163] Năm 325.

[164] Le Brun, trang 221.

[165] QCTQ 44.

[166] QCTQ 54.

[167] J. Juglar, trang 184.

[168] Le Brun, trang 250.

[169] Theo thánh Augustin.

[170] Nt, trang 186.

[171] J. Juglar, trang 186.

[172] Le Brun, trang 258.

[173] J. Juglar, trang 186.

[174] QCTQ 49.

[175] x. Kh 4, 8.

[176] x. Is 6, 3.

[177] Pierre Le Brun, trang 359.

[178] Nt, trang 359.

[179] Báo Signes Musiques.

[180] Petit Traité, trang 70.

[181] Le Sacrifice de Louange, trang 210.

[182] QCTQ 55 b.

[183] Sđd, trang 210.

[184] Sách lễ Rôma tiếng VN.

[185] Nt.

[186] Ðây là mầu nhiệm đức tin.

[187] QCTQ 55 đ.

[188] Chính nhờ Người.

[189] QCTQ 55 h.

[190] A. M. Roguet, La Messe d'aujourd'hui, trang 186.

[191] Pierre le Brun, Explication de la Messe, trang 489.

[192] Nt. Trang 490.

[193] QCTQ 56.

[194] Trong bài ca số 4 về người tôi tớ.

[195] QCTQ 56 c.

[196] Etienne Ubéral, Signes Musiques.

[197] Philippe Robert, Signes et Musiques.

[198] QCTQ 56 đ.

[199] QCTQ 56 i a.

[200] QCTQ 56 i b.

[201] Vatican II, chương VI.

[202] Trong bài: "TN là PV hay nghệ thuật.

[203] 1963.

[204] Concilium 222, trang 18.

[205] Số 112 a.

[206] Concilium 222, trang 19.

[207] Số 112 a.

[208] 1958, số 4, của Piô XII.

[209] Maison-Dieu 108, trang 10.

[210] Số 112 a.

[211] 1955, Piô XII.

[212] Martimort, Liturgie et Musique, trang 192.

[213] Số 112 a.

[214] Ðức Piô X, ban hành 22.11.1903.

[215] Ðức Piô XI, ban hành 20.12.1928.

[216] Số 43 (1955).

[217] SC 112. Concilium 222, trang 28.

[218] Concilium, số 32, trang 105.

[219] TN càng liên kết chặt chẽ với PV bao nhiêu thì càng thánh hơn bấy nhiêu, SC 112.

[220] MD 108, trg 56.

[221] MD, số 212, trang 24.

[222] Số 112 b.

[223] Ep 5, 19.

[224] Cl 3, 16.

[225] Martimort, Lit. et M. trg 186.

[226] 590-604.

[227] Gioan XXII, 1324.

[228] Beneđictô XIV, 1750.

[229] Piô X, 22.11.1903.

[230] Piô XI, 20.12.1928.

[231] Ðấng trung gian giữa TC và con người, Piô XII, 20.11.1947.

[232] Kỷ luật TN, Piô XII, 25.12.1955.

[233] Thánh bộ Phượng tự ban hành 3.9.1958.

[234] Thư 25.1.1967

[235] Vatican II, 5.3.1967.

[236] Do Thánh bộ Phượng tự công bố 6.4.1969.

[237] Ban hành 5.11.1970.

[238] Alexandre VII (NĂM ).

[239] Số 12 b.

[240] De Musica 116.

[241] TS 3 tức Tra le Solli.

[242] Martimort, trang 36.

[243] MD, 108, trang 11.

[244] J. Gelineau, Demain La Liturgie, trang 103.

[245] Gelineau, nt, trang 112.

[246] MD, số 108, trang 8.

[247] Số 112 c.

[248] MD, 156, trang 313.

[249] MD, 108, trang 43.

[250] MD, 108, trang 43.

[251] MD. 108, trang 23.

[252] Số 112 c.

[253] Lối đọc ít ngân nga, âm vực hẹp: ví dụ bài Thương khó của Gm Phaolô Nguyễn Văn Hoà.

[254] Lit. et M. trang 154.

[255] Nt, trang 155.

[256] Hucke.

[257] Hc về PV thánh, số 113.

[258] Nt, số 112 c.

[259] Duchesneau, M. et Lit. trang 173.

[260] Concilium 222, trang 20.

[261] Concilium 222, trang 19.

[262] Số 112 d.

[263] Bình ca, trang 12.

[264] Nt, trang 12.

[265] Nt, trang 13.

[266] TN, trang 29.

[267] TN, trang 32-38.

[268] Số 113 a.

[269] SC 33 b.

[270] SC 14 c.

[271] De Musica, số 94, 1958.

[272] Nt, số 95.

[273] Số 113 a.

[274] SC 14.

[275] Nt, số 30.

[276] Nt, số 33.

[277] Nt, số 48.

[278] Nt, số 113.

[279] Số 113 b.

[280] MD, số 212, trang 28.

[281] De Musica, số 13 a.

[282] Nt, số 13 d.

[283] Nt, số 14 a.

[284] SC 36.

[285] SC 54.

[286] 1967

[287] Số 114 a.

[288] Maison Dieu, số , trang 105

[289] Số 114 a.

[290] De Musica, 99, 1958.

[291] Số 46.

[292] MD, 212, trang 69.

[293] MD, 198, trang 51.

[294] 114 a.

[295] SC 30.

[296] 115 a.

[297] Martimort, trang 209.

[298] De Musica 109.

[299] Nt 110.

[300] Trang 107.

[301] Số 115 a.

[302] De Musica, 105.

[303] De Musica, 106.

[304] De Musica, 107.

[305] De Musica, 108.

[306] 115 b

[307] De Musica, 116.

[308] 115 c

[309] De Musica, 115.

[310] 115 d.

[311] De Musica, 98.

[312] De Musica, 98 d.

[313] De Musica, 97.

[314] De Musica, 101.

[315] De Musica, 114.

[316] Xem sách Les petits Chanteurs.

[317] 116 a.

[318] Paul Huot, Histoire de La Musique Religieuse, trang 7.

[319] Bình ca, trang 36.

[320] Forme récitative.

[321] André Hodeir, Les formes de La Musique, trang 40-41.

[322] Bình ca, trang 11.

[323] Paul Huot, trang 7.

[324] Bình ca, trang 14.

[325] Trang 16.

[326] Bình ca, trg 20.

[327] Tự sắc của Ðức Piô X, 1903.

[328] MP II, 3.

[329] 1955, số 10.

[330] Martimort, trang 31.

[331] De Musica, số 16, 1958.

[332] De Musica, số 16 a.

[333] Nt số 5.

[334] SC 116.

[335] SC 119.

[336] MD 108, trang 8.

[337] 116 b.

[338] SC 30.

[339] De Musica 6.

[340] Tra le n. 4, L. 224.

[341] 1525-1594

[342] De Musica 6.

[343] De Musica 7.

[344] Nt, trang 114. - De Musica sacra et liturgia, số 48.

[345] De Musica, 7.

[346] Nt, trang 54 - De Musica, số 17.

[347] Số 112.

[348] 117 b.

[349] Số 116.

[350] MD 173, trang 81

[351] MD, 151, trang 48.

[352] 118.

[353] De Musica 10.

[354] MS & 16.

[355] Lit. et M. Martimort, trang 29 - De Musica, số 9.

[356] Hucke, trang 109.

[357] De Musica, 19.

[358] Số 118.

[359] MD, số 212, trang 30.

[360] 119 a.

[361] Khoản 40. 1

[362] Khoản 40. 3

[363] SC 37.

[364] 119 b.

[365] 120 a.

[366] MD, 108, trang 53.

[367] De Musica 61.

[368] De Musica 64.

[369] MD, số 198, trang 98.

[370] MD 198, trang 99.

[371] De Musica, 65.

[372] Khoản 3.

[373] Khoản 7.

[374] Khoản 11.

[375] Khoản 13.

[376] 120 b.

[377] De Musica 68.

[378] De Musica, số 60b.

[379] De Musica, số 60 c.

[380] De Musica 65 b.

[381] 121.

[382] Hucke, trang 111.

[383] Liturgie et Musique, trang 192.

[384] 121 c.

[385] De Musica, số 52.

[386] SC 24.

[387] Hucke, trang 111.