BAN THÁNH NHẠC GIÁO PHẬN NHA TRANG
HÁT TRONG PHỤNG VỤ
Lm. Mi Trầm
CHƯƠNG MỘT T̀M HIỂU CHỮ THÁNH NHẠC
II. T́m hiểu ư nghĩa chữ THÁNH
1. Con người có thể hiểu được chữ THÁNH là do cảm nhận thân phận làm người của ḿnh.
2. THÁNH là điều dành cho Chúa
CHƯƠNG HAI DIỄN TIẾN QUAN NIỆM VỀ THÁNH NHẠC.
I. Diễn tiến quan niệm về Thánh nhạc.
II. Cái nh́n mới của Vatican II về Thánh nhạc.
A. Thánh Nhạc đóng vai tṛ thừa tác trong Phụng Vụ.
C. Thánh Nhạc theo quan điểm của CIMS và UL..
CHƯƠNG BA Ư NGHĨA CỦA THÁNH NHẠC TRONG PV
1. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích loan báo
2. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích tán tụng
3. Thánh Nhạc làm nổi bật ư nghĩa ngày lễ
4. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích đối thoại
5. Thánh Nhạc diễn tả chiều kích cộng đoàn
CHƯƠNG BỐN Ư NGHĨA VIỆC CA HÁT TRONG PV
1. Tầm quan trọng của việc ca hát.
a) Hát là cách biểu lộ niềm vui.
b) Hát nâng cao hiệu năng lời cầu nguyện.
2. Những phần phải hát trong cử hành PV:
3. Vài h́nh thể Âm nhạc thường dùng trong PV:
4. Những người đảm nhận việc hát trong PV.
D. Người hát Thánh vịnh Đáp ca:
PHẦN HAI: T̀M HIỂU VÀ THỰC HÀNH CÁC PHẦN TRONG THÁNH LỄ.
2. CA TIẾP LIÊN: (Graduel, Séquence)
PHẦN BA: THÁNH NHẠC THEO HIẾN CHẾ VỀ PHỤNG VỤ THÁNH.
1. "Truyền thống Âm Nhạc của toàn thể GH đă kiến tạo nên một kho tàng vô giá".
2. "Kho tàng âm nhạc vượt hẵn mọi mọi diễn tả nghệ thuật".
5. "Tiên phong là Đức Piô X đă làm sáng tỏ rơ ràng hơn vai tṛ của Thánh Nhạc trong PV"
6. "Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động PV bao nhiêu th́ càng thánh hơn bấy nhiêu".
a) Nhạc là thánh hay phổ quát:
7. "TN vừa phát triển lời cầu nguyện một cách dịu dàng, vừa cổ vơ sự đồng thanh nhất trí, lại vừa làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng"
a) TN phát triển lời cầu nguyện cách dịu dàng
c) TN cổ vơ sự đồng thanh nhất trí
b) TN làm cho nghi lễ thêm long trọng.
9. "Mục đích của TN là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu".
10. "Hoạt động PV mang một h́nh thức cao quí hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự"
a) Bổn phận chủ toạ của chủ tế:
11. "Giáo dân tích cực tham gia"
b) Những trích dẫn trong Hiến chế về PV thánh về sự tham dự của giáo dân:
12. "C̣n về ngôn ngữ được sử dụng, hăy theo qui tắc khoản 36".
a) Tinh thần Musicae Sacrae Disciplina (1955):
b) Tinh thần De Musica Sacra (1958):
c) Tinh thần Hiến chế về PV thánh (1967):
13. "Phải hết sức lo lắng duy tŕ và cổ vơ kho tàng TN".
14. "Phải nỗ lực đào tạo các ca đoàn, nhất là ở nhà thờ chính toà".
15. Các tín hữu tham gia cách linh động
16. "Phải chú trọng đến việc huấn luyện và thực tập âm nhạc trong các Chủng viện, các tập viện..."
17. Dạy trong học viện và học đường công giáo.
18. "Cần phải quan tâm đến việc huấn luyện những giáo sư có nhiệm vụ dạy TN".
19. "Nên thành lập những viện Cao đẳng TN".
20. "Các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi, cũng phải được huấn luyện cho đủ khả năng PV".
B. Tầm quan trọng của B́nh ca:
22. Không là loại trừ các loại TN khác
24. Phải cổ vơ thánh ca b́nh dân cách khéo léo
25. Âm nhạc tại các xứ truyền giáo.
26. Cần phát triển âm nhạc của các dân tộc.
A. Điều kiện để được nhận là nhạc khí dùng trong nhà thờ:
29. Các nhạc sĩ Kitô giáo phải trau dồi TN
Thánh Nhạc là danh từ quen thuộc, nhưng mấy ai hiểu rơ ư nghĩa. Vậy, để t́m hiểu, ta cùng nhau bàn đến những điều sau đây:
Nguồn gốc chữ Thánh Nhạc.
Ư nghĩa chữ THÁNH.
Mục đích của Thánh Nhạc.
+ Theo Nicolas Schulz[1] th́ từ Thánh nhạc đă có từ thế kỷ 17. Nhà sáng tác và lư thuyết Michael Proetorius[2] đă dùng từ Thánh Nhạc lần đầu tiên vào năm 1614, trong cuốn sách của ông tựa đề: "DE MUSICA SACRA et ECCLESIASTICA"[3]. Thời đó, có lẽ ông chưa phân biệt rơ Thánh Nhạc với Nhạc đời như ngày nay.
+ Đến năm 1860, trong công đồng địa phương tại COLOGNE, nước Đức, lần đầu tiên chữ Thánh Nhạc được đưa vào luật Phụng Vụ.
+ Tài liệu đầu tiên của Giáo Hội chấp nhận chữ Thánh Nhạc là: "DE MUSICA SACRA" của Đức Lêô XIII[4].
+ Chữ Thánh Nhạc vĩnh viễn được chấp nhận trong luật Giáo Hội với Tự sắc : TRA LE SOLLECITUDINI của Đức Piô X[5].
+ Công đồng VATICAN II vẫn dùng chữ Thánh Nhạc[6] nhưng mặc cho nó một ư nghĩa mới.
Trước khi định nghĩa, xin nêu vài trích dẫn giúp hiểu được phần nào về chữ THÁNH.
Theo Otto[7] th́: "Sự ư thức lần đầu về chữ THÁNH đồng nghĩa với cảm nhận thân phận thụ tạo".[8]
Régis Jolivet, trong từ điển Triết Học[9] đă định nghĩa "Chữ THÁNH liên quan đến Tôn giáo, đến việc thờ tự. Và như thế, THÁNH là đối tượng của sự tôn trọng, của ḷng kính sợ".
M. Aumont đă viết "Trong các sinh vật th́ chỉ con người sinh sống và biết nghĩ đến một sức mạnh sáng tạo có trước đời sống ngắn ngủi của ḿnh và vượt xa đến vô cùng"[10].
Như vậy, khi ta càng nhận ra ḿnh là thụ tạo th́ ta càng thấy Thiên Chúa là Đấng Rất Thánh.
Một nhóm tác giả đă viết: "Nghệ thuật thánh là nghệ thuật dành cho Chúa. Ví dụ: Chén thánh dành riêng cho việc Phụng tự. Vậy, Thánh Nhạc cũng phải dành cho Chúa".[11]
Linh Mục Louis Bouyer định nghĩa: "THÁNH chính là cái tách biệt với TỤC".[12]
a) "Mục đích của Thánh nhạc là làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu".[13]
b) Vài nhận định:
"Hát th́ thích. Đó là điều tự nhiên. Nhưng trong PV, Nhạc phải giúp ta t́m đến Đấng Vô H́nh".[14]
GM Chevrot khôi hài: "Tôi sợ Nhạc ở nhà thờ. Nếu dở quá th́ nhạc làm tôi khó chịu. Nhưng nếu hay quá th́ nhạc làm tôi lo ra. Trong cả hai trường hợp, nhạc làm tôi khó cầu nguyện".[15]
Đây là câu nói sâu sắc v́ muốn nhắc ta nhớ rằng việc sử dụng Thánh nhạc phải giúp người khác nâng hồn lên tới Chúa.
Con người luôn tiến triển. Các quan niệm thay đổi theo thời gian. Cái nh́n về Thánh Nhạc cũng phiến diện lúc phôi thai và mỗi ngày thêm hoàn chỉnh. Do đó, ta cùng nhau t́m hiểu:
+ Diễn tiến quan niệm về Thánh Nhạc.
+ Cái nh́n mới của VATICAN II về Thánh Nhạc.
+ Thánh Nhạc theo quan điểm của CIMS và UL.[16]
Thời Đức Piô X, Thánh Nhạc chỉ được coi là tôi tớ hèn mọn.[17]
Trong DIVINI CULTUS[18], Đức Piô XI cho Thánh Nhạc là tôi tớ sang trọng.
Đức Piô XII, trong Thông điệp "MEDIATOR DEI"[19], đă coi Thánh Nhạc như thành phần cần thiết của Phụng Vụ.
Măi đến lúc nầy, Thánh Nhạc mới đóng vai tṛ quan trọng hơn trong cử hành PV.
Với Công đồng VATICAN II, Thánh Nhạc đóng vai tṛ thừa tác, là thành phần của Phụng Vụ. Đây là cái nh́n rất mới, rất có giá trị. Đó là kết tinh của kinh nghiệm bao thời và do suy tư của bao người.
Hai trong những cái nh́n mới của Công đồng Vatican II là: Thánh nhạc đóng vai tṛ thừa tác và cộng đoàn tích cực tham dự trong các cử hành Phụng Vụ. Trong phần nầy, chúng ta chỉ bàn đến vai tṛ thừa tác của Thánh nhạc.
Hiến chế về Phụng Vụ thánh viết: "Điệu nhạc thánh đi liền với lời ca làm nên thành phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong Phụng Vụ trọng thể".[20]
"Thánh Nhạc càng liên kết chặt chẽ với hoạt động Phụng vụ bao nhiêu th́ càng thánh hơn bấy nhiêu".[21]
Sau 20 thế kỷ, Giáo Hội thêm xác tín điều đă t́m kiếm và thử nghiệm từ lâu. Cái nh́n mới về Thánh Nhạc của Vatian II đă làm cho cử hành Phụng Vụ ngày nay càng thêm phần linh động khiến các nhà chuyên môn về Thánh Nhạc tích cực nêu lên những nhận định riêng tư của họ.
Theo Lm. J. Gélineau[22] th́ Hiến chế về Phụng Vụ Thánh là một cuộc cách mạng, nhất là Công đồng nói đến hành vi thừa tác của Thánh Nhạc.
Gérard Kock[23] đă nói: "Nhạc trong Phung Vụ không c̣n là thứ trang trí. Nhạc trở nên thành phần cần thiết và trọn vẹn của Phụng Vụ. Nhạc lại trở nên chính Phụng Vụ".
Và nhận định của Tiến sĩ Helmut Hucke[24]: "Điểm quan trọng của Hiến chế về Phụng Vụ Thánh là liên kết Nhạc với Phụng Vụ. Nhạc không chỉ là thẩm mỹ mà c̣n là yếu tố Phụng Vụ".[25]
Qua những nhận định trên đây, ta hiểu phần nào về cái nh́n mới của Công đồng. Và khi nói đến Thánh Nhạc theo Vatican II, ta không thể không nhắc tới hai tổ chức quốc tế về Thánh nhạc, vừa có bước tiên phong, vừa có quyết tâm thực hiện cái mới.
Ta có thể nói là hai tổ chức nầy có những khác biệt, nhưng lại bổ túc cho nhau. Trước hết, ta t́m hiểu về CIMS.
1. CIMS:
a)Tên gọi: CIMS chữ là viết tắt của Consociatio Internationalis Musicae Sacrê có nghĩa là Tổ chức quốc tế về Thánh nhạc.
b) Thành lập: Do Đức Phaolô VI thành lập, ngày 22.11.1963.
c) Đường hướng:
- Nhóm nầy chủ trương nghiên cứu kho tàng Thánh nhạc và B́nh ca để rút tỉa cách sáng tác Thánh nhạc cho cộng đoàn.
- Họ dùng chữ Thánh Nhạc để chỉ Nhạc trong Phụng Vụ.
2. UL:
a) Tên gọi: Đây là tên viết tắt của Universa Laus, có nghĩa là "Khắp nơi ca ngợi"
b) Thành lập: Nhóm nầy được thành lập tháng 4.1966, tại Lugano (Thụy Sĩ) do các nhạc sĩ: J. Gélineau và L. Deiss (Pháp), H. Hucke và E. Quack (Đức).
c) Đường hướng:
Nhóm nầy xem xét các bài hát phù hợp thế nào với các nguyên tắc của Thánh Nhạc truyền thống (Ngược với CIMS).
Họ không muốn dùng chữ Thánh Nhạc nhưng dùng chữ Nhạc nghi thức Công giáo hay Nhạc trong Phụng Vụ Công giáo (cũng ngược với CIMS). Theo một số nhà phê b́nh th́ khi dùng chữ Nhạc nghi thức, nhóm nầy có vẻ muốn dùng nhạc đời.
d) Một vài tiêu chuẩn:[26]
"Việc đàn hát trong Phụng Vụ phải gọi là Nhạc trong Phụng Vụ Công giáo hay Nhạc nghi thức Công giáo. Những kiểu nói Thánh Nhạc, Nhạc Tôn giáo, Nhạc trong Giáo Hội đều không chính xác".[27]
"Trong Phụng Vụ, Nhạc phải mang tính cộng đồng. Hơn nữa, lời cũng đóng vai tṛ đặc biệt".[28]
"Phụng Vụ trước hết là một hành động th́ Nhạc nghi thức là phải hát cộng đồng. Mỗi nghi thức là một thời điểm nhất định và Phụng Vụ là một sự kiện riêng biệt".[29]
e) Những xác tín:[30]
"Ca, nhạc là thành phần của Phụng Vụ".[31]
"Không loại nhạc nào tự nó là đời hay thánh, nhưng chỉ là Nhạc nghi thức".[32]
"Nhạc không lời cũng có chỗ đứng trong Phụng Vụ".[33]
f) Nhận định của Virgil C. Funk về UL:
Khi phân tích về Nhạc nghi thức của UL, Funk nhận thấy có điều ǵ đó chưa ổn và ông viết:
"Ai dùng chữ Nhạc nghi thức thay chữ Thánh Nhạc th́ không phân biệt vấn đề thánh hay tục nữa" (UL như muốn dùng nhạc đời).
"Nếu nhạc đời dùng trong nghi thức nào đó th́ không c̣n là nhạc đời mà là nhạc nghi thức. Nếu Thánh Nhạc dùng trong một nghi thức nào đó th́ không c̣n là Thánh Nhạc mà chỉ là Nhạc nghi thức".[34]
Ở Mỹ, có một thời, các loại nhạc nở rộ trong nhà thờ, có lẽ chịu ảnh hưởng của UL. Phong trào đó có những ưu điểm của nó, nhưng vẫn không thiếu những điều cần xét lại.
g) Bài học từ kinh nghiệm của Mỹ:
Virgil C. Funk đă viết: "Ở Mỹ, chúng tôi đă trả giá đắt cho việc tự do thử nghiệm Nhạc đời trong Phụng Vụ. Chúng tôi đă đi vào ngơ cụt. Chúng tôi đă sai lầm".[35]
Và Aiden Kavanagh, nhà nghiên cứu Phụng Vụ nổi tiếng ở Mỹ, đă nói: "Phải thích ứng Văn hóa vào Phụng Vụ hơn là thích ứng PV vào Văn hóa. Thích ứng PV vào Văn hóa sẽ làm mất PV. Thích ứng Văn hóa vào PV đương nhiên là điều hữu ích".[36]
Thánh Nhạc là thành phần của PV và được xem như là một bè trong bài hợp ca. Ta không thể tách bè đó ra khỏi toàn bộ hoà âm. Do đó, ta cần t́m hiểu các cách diễn tả của Thánh Nhạc để khi hát, ta gặt hái được nhiều kết quả hơn.
Phụng Vụ được xây dựng trên Lời Chúa, trên Tin Mừng, do đó, Nhạc trong PV phải phù hợp với Lời Chúa, phải diễn tả đúng Tin Mừng. Ta không thể nói bất cứ điều ǵ hay hát bất cứ bài ǵ. Nội dung bài hát cần được xem xét kỹ lưỡng.
Các sáng tác của các nhóm Phụng Vụ giáo xứ, những lời thơ để dệt nhạc của các thi sĩ càng cần được xét duyệt cẩn thận hơn nữa. Ta buộc ḷng phải làm như thế chỉ v́ muốn bảo đảm nội dung của các bài hát: Phải loan báo đúng sứ điệp của Lời Chúa.
Phụng Vụ là công việc của cộng đoàn, của Giáo Hội. Mục đích việc dân Chúa tụ họp bên nhau là để ca ngợi Chúa.
Ngày xưa, dân Israel ca tụng Chúa lúc vui, lúc gặp nhiều hạnh vận. Nhưng ngay trong cảnh đau thương, họ vẫn cất lời ca tụng v́ họ tin chắc rằng Chúa sẽ nhận lời họ cầu xin:
"Giữa cảnh gian truân, tôi đă kêu cầu Chúa,
Chúa đáp lời và giải thoát tôi" (Tv 117, 5).
Khi ta đọc hay ngâm cao giọng th́ cũng đă là cách ca tụng Chúa đầy phấn khởi rồi. Nhưng khi ta cùng nhau hát lên th́ chiều kích tán tụng sẽ rơ nét hơn.
Trong Phụng Vụ, loan báo và tán tụng là hai chiều kích rất quan trọng. Do đó, ta cần hết sức lưu tâm để làm nổi bật công việc nầy.
Phụng Vụ là một ngày lễ, là "tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo Hội".[37] Vậy, Thánh Nhạc phải làm sao để diễn tả hết sức sống mănh liệt đó.
Thánh Nhạc phải làm nổi bật ư nghĩa của mùa Phụng Vụ. "Thánh Nhạc vừa làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng".[38]
Để chu toàn phận vụ của ḿnh, Thánh Nhạc phải đạt đến tŕnh độ nghệ thuật đích thực. "Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đă kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẵn mọi diễn tả nghệ thuật".[39]
Một điều cần lưu ư: Dù Nhạc rất nghệ thuật, nhưng cộng đoàn không hát được v́ khó quá th́ Nhạc vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu của Giáo Hội. Ta phải dung hoà để nhạc vừa có tính nghệ thuật, vừa phù hợp với khả năng hát của cộng đoàn.
Đối thoại là cách trao đổi giữa hai bên. Có nhiều cách thể hiện đối thoại:
H́nh thức đối thoại đúng nghĩa nhất trong cử hành Phụng Vụ là Đáp ca. Đó là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và suy niệm. Tiếp đó, họ sẽ hát đáp lại. H́nh thức hát Đáp ca thích hợp là lối ngâm vịnh. Nhưng ở Việt Nam, các Nhạc sĩ thường sáng tác Đáp ca theo h́nh thức ca khúc.
Ngoài Đáp ca, những lúc khác trong cử hành Phụng Vụ cũng cho thấy chiều kích đối thoại. Công cuộc cứu chuộc của Chúa được chuyển đạt từ Thiên Chúa đến con người, qua kinh nguyện trong PV, và con người hát câu tung hô để bày tỏ sự ưng thuận và biết ơn của ḿnh.[40]
Phụng Vụ là công việc của cộng đoàn, v́ "Nhờ phép rửa tội, việc tham dự Phụng Vụ trở thành quyền lợi và bổn phận của dân Kitô giáo".[41]
Phụng Vụ không c̣n là việc dành riêng cho hàng giáo sĩ, nhưng mỗi người phải góp phần để linh động hóa việc cử hành. Người đệm đàn, xướng viên, ca đoàn, cộng đoàn. "Họ phải thi hành phận vụ ḿnh với ḷng đạo đức chân thành và trật tự, phù hợp với thừa tác vụ trọng đại ấy và là điều dân Chúa có quyền đ̣i hỏi nơi họ".[42] Không ai được độc quyền, nhưng phải chia việc cho nhau, "cần phải hết sức để tâm đến việc tham dự trọn vẹn và linh động của toàn dân".[43]
Qui chế tống quát (QCTQ) cho rằng: "Việc sử dụng ca hát trong các cuộc cử hành phải là điều quan trọng".[44]
Nền Âm nhạc của Giáo Hội đă có từ thuở khai sinh và đă để lại một kho tàng vô giá. Trong ư hướng t́m hiểu ư nghĩa việc ca hát trong PV, ta lần lượt nghiên cứu:
+ Tầm quan trọng của việc ca hát
+ Những phần phải hát trong cử hành PV.
+ Vài h́nh thể âm nhạc thường dùng trong GH.
+ Những người đảm nhận việc hát trong PV.
"Ngày ngày, họ đồng tâm nhất trí chuyên cần tới đền thờ, ḷng hân hoan, dạ đơn thành trong lời ca khen Thiên Chúa".[45]
Thánh Augustinô (354- 430) cho rằng "Hát là việc của người yêu" (Bài giảng 336, 1: PL 38, 1472).
Lời Thánh Augustinô đă trở thành câu ngạn ngữ: "Hát hay là cầu nguyện hai lần" cho thấy tầm quan trọng của việc ca hát. Nhưng thế nào là hát hay lại trở thành vấn đề không dễ giải thích.
"Hăy dùng Thánh vịnh, lời ca, lời văn mà ngợi khen Thiên Chúa hết ḷng anh em".[46]