Back ] Home ] Up ] Next ]

QUY CHẾ TỔNG QUÁT SÁCH LỄ RÔ-MA

 

 

Chương IV

 

NHỮNG HÌNH THỨC CỬ HÀNH THÁNH LỄ

 

I. THÁNH LỄ CÓ GIÁO DÂN THAM DỰ

Những gì cần phải sửa soạn

A. Thánh lễ không có phó tế

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

B. Thánh lễ có Thầy Phó Tế

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

C. Những phần việc của thầy giúp lễ

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Thánh Thể

D. Những phần việc của thầy đọc sách

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

II. THÁNH LỄ ÐỒNG TẾ

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Cách thức đọc Lời Nguyện Thánh thể

Kinh Nguyện Thánh Thể I, hay Lễ Qui Rô-ma

Kinh Nguyện Thánh Thể II

Kinh Nguyện Thánh Thể III

Kinh Nguyện Thánh thể IV

Nghi thức hiệp lễ

Nghi thức kết thúc

III. THÁNH LỄ CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI GIÚP

Nghi thức đầu lễ

Phụng vụ Lời Chúa

Phụng vụ Thánh Thể

Nghi thức kết thúc

IV. VÀI QUI LUẬT CHUNG CHO MỌI HÌNH THỨC THÁNH LỄ

Việc tôn kính bàn thờ và sách Tin Mừng

Bái gối và cúi

Việc xông hương

Việc tráng chén

Việc hiệp lễ dưới hai hình

 

 

112. Trong Giáo Hội địa phương, theo đúng ý nghĩa, địa vị quan trọng nhất phải dành cho Thánh Lễ do Ðức Giám Mục chủ sự, giữa hàng linh mục của ngài, phó tế với các thừa tác viên [90] và có dân thánh của Thiên Chúa tham dự cách đầy đủ và linh động. Quả thật, tại đó Hội Thánh được biểu lộ cách đặc biệt hơn cả.

 

Trong Thánh Lễ do Giám mục cử hành, cũng như Giám mục hiện diện mà không cử hành, phải theo những quy tắc ghi trong sách Nghi Thức Giám Mục. [91]

 

113. Cũng phải coi trọng Thánh Lễ cử hành giữa một cộng đồng, nhất là cộng đồng giáo xứ, vì cộng đồng tượng trưng cho Hội Thánh phổ quát, ở một thời gian và không gian nhất định, đặc biệt trong lễ cộng đồng ngày Chúa Nhật. [92]

 

114. Trong các Thánh Lễ cử hành tại một số cộng đồng thì Thánh Lễ tu viện, thành phần của thần vụ hằng ngày, hoặc Thánh Lễ quen gọi là Thánh Lễ "cộng đồng", chiếm địa vị đặc biệt. Mặc dù các Thánh Lễ này không có hình thức cử hành khác biệt, nhưng cũng rất nên hát trong Thánh Lễ, và nhất là nên có sự tham dự đầy đủ của mọi thành viên trong cộng đồng tu sĩ hoặc kinh sĩ. Trong các Thánh Lễ đó, mỗi người sẽ thi hành phận vụ của mình theo chức thánh hoặc thừa tác vụ đã lãnh nhận. Mọi tư tế khi không phải làm lễ riêng cho giáo dân vì lý do mục vụ, nên đồng tế trong các Thánh Lễ đó, mỗi khi có thể được. Vả lại tất cả các tư tế thuộc cộng đồng ấy, mà ích lợi mục vụ buộc phải làm lễ riêng cho giáo dân, cũng có thể đồng tế trong Thánh Lễ tu viện hay Thánh Lễ cộng đồng cùng ngày. [93] Các linh mục hiện diện trong cử hành Thánh Thể, nếu không vì lý do chính đáng mà vắng mặt, nên thi hành phận vụ theo chức thánh mình, và do đó mặc phẩm phục mà tham dự vào đồng tế.

 

I. THÁNH LỄ CÓ GIÁO DÂN THAM DỰ

 

115. Thánh Lễ với giáo dân được hiểu là Thánh Lễ được cử hành khi có giáo dân tham dự. Chừng nào có thể nên hát và nên có một số người giúp lễ tương xứng khi cử hành Thánh Lễ này, đặc biệt các ngày Chúa Nhật và lễ buộc; [94] nhưng cũng có thể cử hành Thánh Lễ mà không hát và chỉ có một người giúp lễ

 

116. Trong bất cứ cử hành Thánh Lễ nào, nếu có thầy Phó tế, thì thầy chu toàn phận vụ mình. Cũng nên có người giúp lễ, người đọc sách và ca viên. Nghi thức trình bày sau đây dự liệu trường hợp có số thừa tác viên khá đông.

 

Những gì cần phải sửa soạn

 

117. Phải có ít là một khăn trải màu trắng trên bàn thờ. Trong mọi cử hành, trên bàn thờ hoặc gần bàn thờ, phải đặt hai, hoặc bốn, hoặc sáu chân nến, có nến thắp; nếu Giám Mục giáo phận cử hành Thánh Lễ, thì đặt bảy chân nến. Ðàng khác, trên bàn thờ hay gần bàn thờ phải đặt thánh giá có hình Chúa chịu nạn. Có thể mang theo chân nến và thánh giá có hình Chúa chịu nạn khi rước chủ tế vào hành lễ. Trên bàn thờ, có thể đặt sẵn một sách Tin Mừng khác với sách Bài Ðọc, trừ khi sách Tin Mừng này được mang theo khi rước chủ tế vào hành lễ.

 

118. Cũng phải dọn sẵn:

 

a. Gần ghế vị tư tế: Sách Lễ và tập sách hát, nếu cần.

 

b. Trên giảng đài: sách bài đọc;

 

c. Trên bàn phụ: chén lễ, khăn thánh, khăn lau chén, và tùy nghi, tấm đậy chén, đĩa thánh và nếu cần các bình thánh; bánh lễ cho linh mục, các thừa tác viên và giáo dân rước lễ, bình nước và bình rượu, trừ khi giáo dân đưa lên tất cả các vật này lúc dâng lễ, bình nước thánh, nếu có rảy; đĩa hứng khi cho giáo dân rước lễ, và tất cả những gì cần thiết để rửa tay.

 

Chén thánh nên có khăn phủ, và khăn phủ này có thể là màu trắng hay màu ngày lễ.

 

119. Trong phòng mặc áo, sẽ tùy hình thức Thánh Lễ cử hành mà dọn phẩm phục cho vị tư tế, phó tế và các thừa tác viên:

 

a. Cho vị tư tế: áo trắng dài (alba), dây các phép (stola) và áo lễ(casula) hoặc áo choàng;

 

b. Cho thầy phó tế: áo trắng dài, dây các phép và áo phó tế; có thể bỏ áo này khi cần hoặc khi bậc lễ không long trọng mấy;

 

c. Cho các thừa tác viên: áo trắng dài hoặc những áo khác đã được chuẩn nhận. [95]

 

Tất cả những ai sử dụng áo trắng dài, thì cũng dùng dây lưng và khăn vai, trừ khi hình dáng áo trắng dài không cần đến.

Khi có rước lúc nhập lễ, phải chuẩn vị sách Tin Mừng; vào những ngày Chúa Nhật và lễ trọng thì chuẩn bị thêm bình hương và hương, nếu có xông hương, thánh giá cầm khi đi rước, chân nến có gắn nến.

 

A. Thánh lễ không có phó tế

 

Nghi thức đầu lễ

 

120. Khi giáo dân đã tập hợp, vị tư tế và các thừa tác viên mặc phẩm phục tiến tới bàn thờ theo thứ tự sau đây:

a. Người mang bình hương có đốt hương sẵn, nếu có xông hương;

 

b. Các thừa tác viên cầm nến và thầy giúp lễ hay một thừa tác viên khác cầm thánh giá đi giữa họ;

 

c. Các thầy giúp lễ và các thừa tác viên khác;

 

d. Thầy đọc sách, thầy này có thể mang sách Tin Mừng, chứ không phải sách Bài Ðọc, nâng cao lên một chút;

e. Vị chủ tế.

 

Nếu có xông hương, linh mục sẽ bỏ hương trước khi đi rước, chúc lành bằng dấu thánh giá, mà không nói chi hết.

 

121. Ðang khi đoàn rước tiến lên bàn thờ, ca đoàn hát ca nhập lễ.

 

122. Khi tới bàn thờ, vị tư tế và các thừa tác viên cúi mình sâu.

 

Nếu có mang thánh giá có hình Chúa chịu nạn trong khi đi rước, thì đặt thánh giá gần bàn thờ để thành thánh giá bàn thờ. Chỉ để một thánh giá thôi, nên nếu có rồi thì đem thánh giá đi rước cất đi. Ðèn thì đặt trên bàn thờ hay bên cạnh; sách Tin Mừng, thì đặt trên bàn thờ.

 

123. Vị tư tế tiến lên hôn bàn thờ, rồi tùy nghi, xông hương thánh giá và chung quanh bàn thờ.

 

124. Sau đó, vị tư tế tới ghế. Khi hát xong ca nhập lễ, mọi người vẫn đứng, vị tư tế và giáo dân làm dấu thánh giá. Vị tư tế đọc: "Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Giáo dân thưa: A-men.

 

Rồi vị tư tế hướng về giáo dân , dang tay, dùng một trong các công thức đã soạn sẵn mà chào họ. Sau đó, chính vị tư tế hay một thừa tác viên khác nói một vài lời vắn tắt dẫn giáo dân vào Thánh Lễ ngày hôm ấy.

 

125. Tiếp theo là nghi thức sám hối, rồi hát hoặc đọc kinh "Lạy Chúa, xin thương xót", theo luật chữ đỏ (x. n. 52).

 

126. Khi luật đòi hỏi thì hát hoặc đọc Kinh "Vinh danh" (x. n. 53).

 

127. Tiếp đó, linh mục mời giáo dân cầu nguyện, bằng cách chắp tay đọc: "Chúng ta dâng lời cầu nguyện". Và mọi người cùng với vị tư tế thinh lặng cầu nguyện trong giây lát. Ðoạn vị tư tế dang tay đọc lời nguyện nhập lễ; đọc xong, giáo dân tung hô: "A-men".

 

Phụng vụ Lời Chúa

 

128. Dứt lời nguyện nhập lễ, mọi người ngồi xuống. Vị tư tế có thể nói vắn tắt dẫn tín hữu vào phụng vụ Lời Chúa. Ðộc viên tới giảng đài và đọc bài đọc thứ nhất từ sách Bài Ðọc đã để sẵn trước Thánh Lễ, mọi người ngồi nghe, và đến cuối thì nói to: "Ðó là Lời Chúa", mọi người đáp lại: "Tạ ơn Chúa".

 

Có thể tùy nghi giữ một chút thinh lặng, để mọi người suy gẫm giây lát những lời vừa nghe.

 

129. Sau bài đọc, người hát thánh vịnh hay chính độc viên, xướng thánh vịnh và dân chúng đọc câu đáp.

 

130. Nếu có bài đọc thứ hai trước bài Tin Mừng, thì độc viên cũng đọc tại giảng đài như trên, mọi người ngồi nghe và đến cuối thì tung hô, như nói trên (n. 128). Sau đó tùy nghi giữ một chút thinh lặng.

 

131. Tiếp đến mọi người đứng dậy và hát A-lê-lu-ia, hoặc bài ca nào khác, tùy mùa phụng vụ đòi hỏi (x. nn. 62-64).

 

132. Trong khi hát A-lê-lu-ia, hoặc bài ca nào khác, vị tư tế bỏ hương, ban phép lành, nếu có xông hương. Rồi vị tư tế chắp tay, cúi mình sâu trước bàn thờ, đọc thầm: "Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy tâm hồn".

 

133. Rồi, vị tư tế cầm lấy sách Tin Mừng, nâng lên một chút, nếu sách đó đặt trên bàn thờ, tiến đến giảng đài, có những thừa tác viên đi trước. Những người này có thể mang bình hương và nến, đứng hướng về giảng đài, tỏ lòng tôn kính đặc biệt đối với Tin Mừng Chúa Ki-tô.

 

134. Tại giảng đài, vị tư tế mở sách và chắp tay đọc: "Chúa ở cùng anh chị em", dân chúng đáp: "Và ở cùng Cha", vị tư tế đọc tiếp: "Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô...", đưa ngón tay cái làm dấu trên sách và trên mình, nơi trán, miệng và ngực, mọi người khác cũng làm như thế. Dân chúng tung hô nói: "Lạy Chúa, vinh danh Chúa". Rồi vị tư tế xông hương sách Tin Mừng, nếu có xông hương (x. nn. 277-278). Sau đó, vị tư tế công bố bài Tin Mừng, và cuối bài thì tung hô: "Ðó là Lời Chúa", dân chúng đáp: "Lạy Chúa Ki-tô, ngợi khen Chúa". Vị tư tế hôn sách và đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc".

 

135. Nếu không có độc viên, chính vị tư tế sẽ đứng tại giảng đài đọc các bài đọc, và thánh vịnh. Nếu có xông hương, thì cũng tại đó, ngài bỏ hương và cúi mình sâu đọc kinh "Lạy Thiên Chúa toàn năng..."

 

136. Vị tư tế đứng tại ghế hay giảng đài, hay nơi nào khác xứng hợp, diễn giảng; giảng xong giữ một chút thinh lặng.

 

137. Vị tư tế đọc hay hát kinh Tin Kính chung với giáo dân, mọi người đứng. Khi tới câu: "Bởi phép Chúa Thánh Thần..", mọi người đều cúi mình sâu; nhưng trong lễ Truyền Tin và lễ Giáng Sinh, thì mọi người quỳ gối.

 

138. Xong kinh Tin Kính, vị tư tế đứng tại ghế, chắp tay, nói vắn tắt mời tin hữu cầu nguyện cho mọi người. Sau đó, phó tế, hay ca viên hay độc viên hay một người khác hướng về dân chúng đọc những ý nguyện từ giảng đài hay một nơi khác xứng đáng. Về phần mình, dân chúng đáp lại bằng lời cầu khẩn. Sau đó, vị tư tế dang tay đọc lời nguyện kết thúc.

 

Phụng vụ Thánh Thể

 

139. Sau lời nguyện cho mọi người, mọi người ngồi và bắt đầu hát ca tiến lễ (x. n. 74), nếu có rước lễ phẩm.

 

Thầy giúp lễ hay một thừa tác viên giáo dân khác đem khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ đặt trên bàn thờ.

 

140. Nên để cho các tín hữu biểu lộ sự tham dự bằng việc tiến dâng bánh và rượu dùng vào việc tế lễ, hoặc những phẩm vật dùng để đáp ứng các nhu cầu của thánh đường và cứu trợ người nghèo.

 

Vị tư tế, với sự trợ giúp của thầy giúp lễ hay một thừa tác viên khác, nhận lãnh các phẩm vật giáo dân dâng tiến. Bánh và rượu dùng trong Thánh Lễ, thì đem đặt trên bàn thờ, những phẩm vật khác thì đem để vào nơi thích hợp.

 

141. Tại bàn thờ, vị tư tế tiếp nhận đĩa thánh có bánh; rồi hai tay cầm đĩa, nâng lên cao một chút, mà đọc thầm: "Lạy Chúa, chúc tụng Chúa". Ðoạn đặt đĩa có bánh trên khăn thánh.

 

142. Sau đó, người giúp lễ trao các bình rượu, nước cho vị tư tế đứng phía cạnh bàn thờ, vị tư tế rót rượu và một chút nước vào chén thánh, đọc thầm: "Nhờ mầu nhiệm nước". Trở lại giữa bàn thờ, vị tư tế hai tay cầm chén, nâng cao một chút mà đọc nhỏ tiếng: "Lạy Chúa, chúc tụng Chúa", rồi đặt chén trên khăn thánh và tùy nghi đậy tấm che.

 

Nếu không hát khi dâng tiến lễ phẩm hay không chơi đờn, thì vị tư tế được phép, khi dâng tiến bánh và rượu, đọc to tiếng những công thức chúc tụng, và giáo dân tung hô: "Chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời".

 

143. Sau khi đặt chén trên bàn thờ, vị tư tế cúi mình đọc thầm kinh: "Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận chúng con...".

 

144. Tiếp đó, nếu có xông hượng, vị tư tế bỏ hương và xông hương của lễ, thánh giá và bàn thờ; còn người giúp lễ, đứng bên cạnh bàn thờ, xông hương vị tư tế, rồi sau đó, giáo dân.

 

145. Sau kinh "Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin thương nhận chúng con..." hoặc sau khi xông hương, vị tư tế đứng bên cạnh bàn thờ để rửa tay và đọc thầm: "Lạy Chúa, xin tẩy rửa con", đang khi người giúp lễ đổ nước.

 

146. Trở lại giữa bàn thờ, vị tư tế đứng hướng về giáo dân, dang tay ra, rồi chắp lại, mời gọi họ cầu nguyện, mà rằng: "Anh chị em hãy cầu nguyện...". Giáo dân đứng lên và thưa "Xin Chúa nhận lễ vật...". Sau đó, vị tư tế dang tay đọc lời nguyện tiến lễ; cuối lời nguyện, giáo dân tung hô "A-men".

 

147. Bấy giờ vị tư tế bắt đầu kinh Tạ Ơn. Ngài chọn theo luật chữ đỏ một trong các kinh Tạ Ơn có trong Sách Lễ Rô-ma hay đã được Toà Thánh chuẩn nhận. Tự bản chất, kinh Tạ Ơn đòi hỏi một mình vị tư tế đọc mà thôi, do chức thánh. Giáo dân hiệp ý với vị tư tế trong đức tin và trong thinh lặng, nhưng cũng can dự vào Kinh Tạ Ơn bằng những lời đáp trong phần đối thoại đầu kinh Tiền Tụng, bằng kinh Thánh, Thánh, Thánh, bằng tung hô sau truyền phép, bằng lời tung hô A-men sau lời vinh tụng cuối cùng, cũng như các lời tung hô khác được Hội Ðồng Giám Mục phê chuẩn và Toà Thánh công nhận. Những phần nào trong Kinh Tạ Ơn có nốt nhạc, thì vị tư tế nên hát.

 

148. Mở đầu Kinh Tạ Ơn, vị tư tế dang tay hát hay đọc: "Chúa ở cùng anh chị em", giáo dân đáp: "Và ở cùng cha". Và khi đọc tiếp: "Hãy nâng tâm hồn lên", ngài nâng hai tay cao lên, giáo dân đáp: "Chúng con đang hướng về Chúa"; rồi giữ nguyên hai tay dang ra, đọc tiếp: "Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta", giáo dân thưa: "Thật là chính đáng". Sau đó vị tư tế dang tay đọc tiếp Kinh Tiền Tụng; sau Kinh Tiền Tụng, ngài chắp tay lại và cùng với các người hiện diện hát hay đọc rõ tiếng kinh "Thánh, Thánh, Thánh" (x. n. 79, b).

 

149. Vị tư tế tiếp tục kinh Tạ Ơn như chữ đỏ đã ghi trong mỗi kinh. Nếu chủ tế là Giám Mục, sau những lời "Cùng với Ðức Thánh Cha T. là tôi tớ Cha" ngài thêm "và con là tôi tớ bất xứng của Cha". Nếu Giám Mục cử hành ngoài giáo phận mình thì sau những lời: "Cùng với Ðức Thánh Cha T.", ngài thêm: "và con là tôi tớ bất xứng của Cha và người anh em con là T., giám mục giáo phận T. này".

 

Giám Mục giáo phận, hoặc vị cùng đẳng cấp theo luật, phải được xướng tên với công thức: "cùng với tôi tớ Cha là Ðức Giáo Hoàng T. và Ðức Cha T. là Giám Mục (hoặc: đại diện, giám chứ?, phủ doãn, đan viện phụ) giáo phận chúng con".

 

Trong kinh Tạ Ơn, được phép xướng tên các giám mục phó và giám mục phụ tá, nhưng không xướng tên các Giám Mục khác tình cờ hiện diện. Khi phải xướng tên nhiều vị thì đọc theo một công thức chung: "Ðức Cha T. Giám Mục giáo phận chúng con và các đức giám mục cộng tác với ngài".

 

Trong mỗi kinh Tạ ơn, phải lưu ý tới các quy tắc văn phạm mà thích nghi các công thức trên.

 

150. Một lát trước khi truyền phép, nếu thuận tiện, người giúp lễ sẽ rung chuông nhắc nhở giáo dân. Cũng rung chuông mỗi lần dâng Mình Thánh, Máu Thánh lên, tùy theo thói quen mỗi địa phương.

 

Nếu có xông hương thì người giúp lễ xông hương khi bánh thánh và chén được trình cho dân chúng sau truyền phép.

 

151. Sau khi truyền phép, vị tư tế nói: "Ðây là mầu nhiệm đức tin", giáo dân tung hô theo một trong các công thức có sẵn.

 

Cuối kinh Tạ Ơn, vị tư tế cầm đĩa có bánh thánh và chén, rồi nâng cả hai, đọc lời vinh tụng: Chính nhờ Ðức Ki-tô. Dân chúng tung hô: A-men. Sau đó vị tư tế đặt đĩa và chén trên khăn thánh.

 

152. Xong kinh Tạ Ơn, vị tư tế chắp tay đọc lời nhắn nhủ trước kinh Lạy Cha, rồi dang tay đọc kinh Lạy Cha cùng với giáo dân.

 

153. Ðọc kinh Lạy Cha xong, một mình vị tư tế dang tay đọc kinh "Lạy Cha xin cứu chúng con..". Khi đọc xong, giáo dân tung hô: "Vì Chúa là Vua...".

 

154. Rồi vị tư tế dang tay đọc rõ tiếng kinh "Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã nói...". Xong kinh này, ngài dang tay, rồi chắp tay, hướng về giáo dân, chúc bình an: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em". Giáo dân thưa: "Và ở cùng Cha". Sau đó, vị tư tế sẽ tuỳ nghi thêm: "Anh (chị) em hãy chúc bình an cho nhau".

 

Vị tư tế có thể chúc bình an cho các người giúp lễ, nhưng ngài phải luôn luôn ở trên cung thánh, để khỏi làm xáo trộn cuộc cử hành. Nếu có lý do chính đáng, ngài cũng có thể trao bình an cho vài giáo dân, nhưng vẫn ở trên cung thánh. Mọi người trao cho nhau bình an, sự hiệp thông và tình bác ái theo cách Hội Ðồng Giám Mục quy định. Khi trao bình an, có thể nói: "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh", và được đáp lại là "A-men".

 

155. Sau đó, vị tư tế cầm Mình Thánh, bẻ ra trên đĩa thánh và bỏ một phần nhỏ vào chén thánh, đọc thầm "Xin Mình và Máu Chúa Giê-su...". Ðang khi đó, ca đoàn và giáo dân hát hay đọc kinh "Lạy Chiên Thiên Chúa...".

 

156. Bấy giờ vị tư tế chắp tay đọc thầm kinh "Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa..." hoặc "Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, con sắp rước Mình và Máu Thánh Chúa...".

 

157. Ðọc kinh đó xong, vị tư tế bái gối, rồi cầm lấy Mình Thánh đưa lên cao một chút trên đĩa thánh hay trên chén thánh, hướng về giáo dân và nói: "Ðây Chiên Thiên Chúa...", sau đó ngài cùng với giáo dân đọc một lần câu "Lạy Chúa, con chẳng đáng...".

 

158. Rồi vị tư tế đứng hướng về bàn thờ, đọc thầm "Xin Mình Thánh Chúa Ki-tô gìn giữ con...", và kính cẩn rước Mình Thánh Chúa Ki-tô. Ðoạn ngài cầm chén thánh đọc thầm: "Xin Máu Thánh Chúa Ki-tô gìn giữ con...", và kính cẩn rước Máu Thánh Chúa Ki-tô.

 

159. Khi vị tư tế rước lễ thì bắt đầu hát ca Hiệp lễ (x. n. 86).

 

160. Sau đó vị tư tế cầm đĩa thánh hay bình thánh, tiến đến chỗ những người rước lễ thông thường đi lên theo hàng.

 

Không cho phép chính tín hữu tự mình cầm lấy bánh thánh và chén thánh, càng không được chuyền cho nhau. Các tín hữu rước lễ quỳ hay đứng tùy theo quy định của Hội Ðồng Giám Mục. Nếu đứng, họ nên tỏ một cử chỉ tôn kính, theo như luật định, trước khi nhận Mình Máu Thánh.

 

161. Nếu chỉ cho rước lễ dưới hình bánh, vị tư tế đưa Mình Thánh lên cao một chút trước mặt mỗi người và nói: "Mình Thánh Chúa Ki-tô". Người rước lễ thưa "A-men", rồi rước lễ, bằng miệng, hoặc, nơi nào cho phép, bằng tay. Sau khi nhận lấy bánh thánh, người rước lễ rước hết ngay.

 

Về việc rước lễ dưới hai hình, thì giữ nghi thức mô tả dưới đây (x. nn. 284-287).

 

162. Các linh mục hiện diện có thể giúp chủ tế cho rước lễ. Nếu không có linh mục và số người rước lễ quá đông, chủ tế có thể kêu giúp đỡ các thừa tác viên ngoại thường, nghĩa là thầy có chức giúp lễ và những tín hữu khác được đề cử vào việc này. [96] Trong trường hợp cấp bách, chủ tế có thể cử những tín hữu xứng đáng. [97]

 

Các thừa tác viên này không đến bàn thờ trước khi vị tư tế rước lễ và luôn luôn nhận các bình đựng Mình Máu Thánh để cho tín hữu rước từ tay vị chủ tế.

 

163. Cho rước lễ xong, vị tư tế rước hết rượu thánh hiến còn lại ngay tại bàn thờ; còn bánh thánh còn dư thì hoặc rước hết tại bàn thờ hay đưa cất trong nhà tạm.

 

Vị tư tế trở lại bàn thờ, thu những mụn bánh nếu có; rồi ngài đứng sang phía cạnh bàn thờ hay tới bàn phụ mà gạt các mụn bánh trên đĩa thánh và trong bình thánh vào chén thánh; ngài vừa tráng chén, vừa đọc thầm: "Lạy Chúa, miệng chúng con..." và dùng khăn lau chén mà lau. Nếu tráng chén trên bàn thờ, thì sau đó người giúp lễ sẽ đem bình và chén xuống bàn phụ. Cũng có thể để bình chưa tráng, nhất là khi có nhiều bình, trên một khăn thánh ở bàn thờ hay bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để liền sau lễ, khi giải tán dân chúng rồi, sẽ tráng.

 

164. Sau đó, vị tư tế có thể trở về ghế. Có thể giữ thinh lặng thánh một lúc, hoặc hát thánh ca ngợi khen hay thánh vịnh (x. n. 88).

 

165. Sau đó, vị tư tế đứng tại bàn thờ hay tại ghế, chắp tay, hướng về giáo dân và đọc: "Chúng ta hãy cầu nguyện", rồi dang tay đọc lời nguyện Hiệp Lễ, nhưng trước lời nguyện này, có thể giữ thinh lặng trong giây lát, trừ khi đã giữ thinh lặng ngay sau khi rước lễ. Sau lời nguyện, giáo dân tung hô "A-men".

 

Nghi thức kết thúc

 

166. Ðọc lời nguyện Hiệp Lễ xong, nếu có điều gì cần loan báo cho giáo dân, thì nói vắn tắt.

 

167. Ðoạn vị tư tế dang tay chào giáo dân "Chúa ở cùng anh chị em", giáo dân thưa: "Và ở cùng Cha". Vị tư tế chắp tay, rồi lập tức tay trái đặt trên ngực và tay phải giơ lên, nói "Xin Thiên Chúa toàn năng" rồi vừa làm dấu thánh giá trên dân vừa đọc "Là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em". Mọi người thưa: "A-men".

 

Trong một ít ngày và một ít dịp, được tùy theo chữ đỏ mà dùng một công thức long trọng hơn, hoặc một lời nguyện cầu trên dân chúng, trước lời chúc lành này.

 

Giám Mục chúc lành cho dân bằng công thức phù hợp, tay làm ba lần dấu thánh giá trên dân.

 

168. Ngay sau khi chúc lành, vị tư tế chắp tay nói tiếp: "Lễ đã xong, chúc anh chị em ra về bình an". Mọi người thưa: "Tạ ơn Chúa".

 

169. Vị tư tế hôn bàn thờ như thường lệ, rồi cùng với các người giúp lễ chào kính bàn thờ mà ra về.

 

170. Nếu ngay sau Thánh Lễ có cử hành nghi thức phụng vụ nào khác, thì bỏ nghi thức kết thúc, tức là bỏ lời chào, lời chúc lành và giải tán.

 

B. Thánh lễ có Thầy Phó Tế

 

171. Khi có thầy Phó tế dự phần vào việc cử hành Thánh Lễ, thầy phải mặc áo thánh và chu toàn thừa tác vụ của mình. Cách chung thầy phó tế:

 

a. Giúp vị tư tế và đi bên cạnh ngài khi tiến ra bàn thờ;

 

b. Tại bàn thờ, thầy sẽ phục vụ những việc liên hệ đến chén thánh và sách;

 

c. Công bố Tin Mừng và có thể giảng, nếu vị chủ tế bảo;

 

d. Nhắc nhở giáo dân khi cần và đọc các ý của lời nguyện phổ quát;

 

e. Giúp chủ tế ban Mình Máu Chúa và tráng, xếp các bình thánh;

 

f. Nếu không có người giup?lễ nào khác, thì khi cần, chính thầy sẽ làm công việc của các người ấy.

 

Nghi thức đầu lễ

 

172. Hai tay nâng sách Tin Mừng, thầy phó tế đi trước vị tư tế mà tiến đến bàn thờ; nếu không có cầm sách thì thầy đi bên cạnh.

 

173. Khi đến bàn thờ, nếu mang sách Tin Mừng, thầy không bái kính, bước lên bàn thờ đặt sách Tin Mừng trên bàn thờ, rồi cùng với vị tư tế hôn kính bàn thờ.

 

Nếu không mang sách Tin Mừng, thầy cúi mình sâu chào bàn thờ cùng với vị tư tế, và cùng với ngài hôn kính bàn thờ.

 

Sau đó, nếu có xông hương, thầy sẽ giúp vị tư tế bỏ hương và xông hương thánh giá và bàn thờ.

 

174. Xông hương xong, thầy cùng với vị tư tế tới ghế, đặt bên cạnh vị tư tế và giúp ngài khi cần.

 

Phụng vụ Lời Chúa

 

175. Ðang khi hát A-lê-lu-ia hay bài ca nào khác, nếu có xông hương, thầy Phó tế giúp vị tư tế bỏ hương, rồi cúi mình sâu trước mặt vị tư tế, xin phép lành, mà đọc nhỏ tiếng: "Xin Cha chúc lành cho con". Vị tư tế chúc lành cho thầy: "Xin Chúa ngự nơi tâm hồn...". Thầy Phó tế làm dấu thánh giá trên mình và thưa: "A-men", rồi sau khi đã chào kính bàn thờ, thầy lấy sách Tin Mừng trên bàn thờ, nếu sách để trên đó, đoạn tay nâng sách lên một chút tiến tới giảng đài, cùng với các người cầm hương, cầm nến đi trước, nếu có. Tại giảng đài, thầy chắp tay chào giáo dân: "Chúa ở cùng anh chị em", rồi khi đọc câu: "Tin Mừng Ðức Giê-su Ki-tô", thầy lấy ngón cái làm dấu trên sách, sau đó trên trán, miệng và ngực mình, xông hương sách và công bố bài Tin Mừng. Ðọc xong, thầy nói: "Ðó là Lời Chúa", mọi người thưa: "Lạy Chúa Ki-tô, ngợi khen Chúa". Rồi thầy hôn kính sách và đọc thêm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc...", rồi về chỗ gần vị tư tế.

 

Khi thầy phó tế giúp Giám Mục, thầy đưa sách cho ngài hôn hay chính thầy vừa hôn sách vừa đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc". Trong các buổi cử hành long trọng, Giám Mục có thể ban phép lành cho dân chúng với sách Tin Mừng.

 

Sau đó thầy đưa sách Tin Mừng về bàn phụ hay một nơi thích đáng khác.

 

176. Nếu không có người đọc sách xứng đáng, thì thầy phó tế đọc các bài đọc.

 

177. Sau lời nói mở đầu của vị tư tế, thầy phó tế sẽ xướng các ý nguyện của lời nguyện cho mọi người, thường thì ở giảng đài.

 

Phụng vụ Thánh Thể

 

178. Khi lời nguyện cho mọi người xong, vị tư tế ngồi xuống ghế, thầy phó tế cùng với thầy giúp lễ đi dọn bàn thờ, nhưng chính thầy phải sửa soạn các bình thánh. Thầy cũng giúp vị tư tế tiếp nhận lễ phẩm do giáo dân dâng tiến. Rồi thầy trao đĩa thánh có bánh lễ cho vị tư tế. Thầy vừa rót rượu và chút nước vào chén thánh, vừa đọc thầm: "Cũng như giọt nước này hoà chung...", rồi trao chén thánh cho vị tư tế. Có thể sửa soạn chén thánh tại bàn phụ. Nếu có xông hương, thầy giúp vị tư tế xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ, sau đó, thầy hoặc một người giúp lễ khác, sẽ xông hương vị tư tế và giáo dân.

 

179. Trong phần kinh Tạ Ơn, thầy Phó tế đứng gần vị tư tế, phía sau một chút, để khi cần, giúp ngài mở chén, mở sách .

Từ lúc đọc kinh khẩn xin Chúa Thánh Thần cho đến khi nâng chén thánh, thường thì thầy phó tế quỳ. Nếu có nhiều phó tế, một thầy sẽ bỏ hương và xông hương lúc nâng bánh thánh và chén thánh sau truyền phép.

 

180. Ðến vinh tụng ca kết thúc kinh Tạ Ơn, thầy phó tế đứng cạnh vị tư tế, nâng chén thánh lên, đang khi vị tư tế nâng đĩa có Mình Thánh, cho đến khi giáo dân đã tung hô: "A-men".

 

181. Sau khi vị tư tế đọc kinh cầu bình an và câu "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân đã thưa "Và ở cùng Cha", thầy phó tế tùy nghi chắp tay, hướng về giáo dân mời trao bình an: "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau". Thầy nhận bình an của vị tư tế, và có thể chúc bình an cho những người giúp lễ gần mình.

 

182. Sau khi vị tư tế rước lễ, thầy phó tế rước lễ dưới hai hình từ tay ngài, rồi giúp ngài cho giáo dân rước lễ. Nếu giáo dân rước lễ dưới hai hình, chính thầy cầm chén cho rước Máu Thánh, rồi liền đó thầy kính cẩn rước hết tại bàn thờ Máu Thánh còn lại, nều cần có thể nhờ các phó tế khác và linh mục giúp đỡ.

 

183. Cho rước lễ xong, cùng với vị tư tế trở về bàn thờ, thầy lượm các vụn bánh thánh, nếu có, rồi đem chén thánh và các bình thánh xuống bàn phụ mà tráng và xếp dọn lại như thường lệ, trong khi vị tư tế trở về ghế. Cũng có thể để chén và bình thánh chưa tráng, chưa lau trên một khăn thánh ở bàn phụ, che đậy lại tùy nghi, để liền sau lễ sẽ tráng, một khi đã giải tán dân chúng.

 

Nghi thức kết thúc

 

184. Khi vị tư tế đã đọc lời nguyện Hiệp Lễ, nếu cần loan báo điều gì cho giáo dân, thầy phó tế sẽ nói vắn tắt, trừ khi chính linh mục muốn làm việc này.

 

185. Nếu có công thức ban phép lành trọng thể hay có lời nguyện trên dân chúng, thầy phó tế nói: "Anh chị em hay cúi mình nhận lãnh phép lành". Khi vị tư tế ban phép lành xong, thầy phó tế dùng những lời sau đây mà giải tán dân chúng: "Lễ đã xong, chúc anh chị em ra về bình an".

 

186. Sau đó, cùng với vị tư tế, thầy hôn kính bàn thờ, và khi đã kính cẩn bái chào bàn thờ, thầy trở về cùng một cách như khi tiến ra.

 

C. Những phần việc của thầy giúp lễ

 

187. Các phần việc mà thầy giúp lễ có thể làm thuộc nhiều loại khác nhau; lại có nhiều phần việc phải làm cùng một lúc. Vậy nên phân phối các phần việc đó cho nhiều người. Nhưng nếu chỉ có một thầy giúp lễ có mặt, thầy sẽ thi hành những gì quan trọng hơn; còn các việc khác, thì trao cho những người giúp lễ khác.

 

Nghi thức đầu lễ

 

188. Khi tiến ra bàn thờ, thầy giúp lễ có thể mang thánh giá đi giữa hai người giúp cầm nến cháy. Khi tới bàn thờ, thầy đặt thánh giá gần bàn thờ, để thành thánh giá bàn thờ, nếu không thì đem cất vào nơi xứng đáng. Rồi thầy về chỗ của mình trong cung thánh.

 

189. Trong suốt buổi cử hành, nhiệm vụ của thầy giúp lễ là đến gần vị tư tế, hoặc phó tế, mỗi khi cần, để đưa sách và giúp các ngài trong những gì cần thiết. Do đó, nên hết sức dành cho thầy một chỗ thuận tiện, để thầy dễ dàng lo phần việc của mình nơi ghế ngồi hay tại bàn thờ.

 

Phụng vụ Thánh Thể

 

190. Nếu không có thầy phó tế, thì sau lời nguyện cho mọi người, và khi vị tư tế còn ở tại ghế, thầy giúp lễ đặt khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ lên bàn thờ. Rồi, nếu cần, thầy giúp vị tư tế tiếp nhận lễ phẩm do giáo dân dâng tiến, và, nếu tiện, đưa bánh rượu tới bàn thờ và trao cho vị tư tế. Nếu có xông hương, chính thầy đưa bình hương cho vị tư tế và giúp ngài xông hương lễ phẩm, thánh giá và bàn thờ. Rồi thầy xông hương vị tư tế và giáo dân.

 

191. Thầy có thừa tác vụ giúp lễ có thể giúp vị tư tế cho giáo dân rước lễ, nếu cần, với tư cách một thừa tác viên ngoại lệ. [98] Nếu cho rước lễ dưới hai hình, mà không có thầy phó tế, thầy cho họ rước Máu Thánh; nếu giáo dân rước lễ theo cách chấm, thì thầy cầm chén thánh.

 

192. Cho rước lễ xong, thầy có thừa tác vụ giúp l&